Báo cáo của Ủy ban Liên Chánh phủ IPCC 2021
về Biến đổi Khí hậu
và Việt Nam ứng phó Biến đổi Khí hậu:
Những mặt tích cực và hạn chế
Huỳnh Long Vân PhD
Giới thiệu
Huỳnh Long Vân, PhD
Tiến sĩ nghiên cứu khoa học ở Úc. Ông đã từng làm việc tại Tổ chức Nghiên cứu Công nghiệp và Khoa học Khối Thịnh Vượng Chung tại Úc (tiếng Anh là The Commonwealth Scientific and Industrial Research Organisation, viết tắt là SCIRO).
Intergovernmental Panel on Climate Change (IPCC)
Tên tiếng Việt là Ủy ban Liên chánh phủ về Biến đổi khí hậu (BĐKH): là một cơ quan khoa học chịu trách nhiệm đánh giá rủi ro về biến đổi khí hậu do hoạt động con người gây ra. Ủy ban này đã được thành lập năm 1988 bởi Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) và Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP); sau đó được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua. Uỷ ban này có trụ sở chính tại Geneva, Thụy Sĩ.
IPCC đã nhận Giải Nobel Hòa bình năm 2007 cùng với cựu Phó Tổng thống Hoa Kỳ Al Gore.
NỘI DUNG
Trích yếu
1. Phát triển kinh tế của Việt Nam bị đe dọa bởi BĐKH
2. Báo cáo của Ủy ban Liên Chánh phủ IPCC 2021 về BĐKH
3. Những kế hoạch ứng phó của của Việt Nam
3.1 Quy hoạch Thủy lợi Đồng Bằng Sông Cửu Long
3.1.1 Vùng tả ngạn sông Tiền
3.1.2 Vùng giữa sông Tiền và sông Hậu
3.1.3 Vùng Tứ giác Long Xuyên
3.1.4 Bán đảo Cà Mau
3.2 Kế hoạch cắt giảm khí nhà kính phát thải của Việt Nam
3.2.1 Năng lượng
3.2.2 Nông nghiệp
3.2.3 LULUCF
3.2.4 Kỹ nghệ và Giao thông Vận tải
4. Nhận xét về Ứng phó BĐKH của Việt Nam
4.1 Mặt tích cực
4.1.1 Quy hoạch thủy lợi
4.1.2 Cắt giảm khí nhà kính phát thải
4.1.2.1 Phát triển năng lượng Hydrogen Xanh
4.1.2.2 Sử dụng năng lượng Sinh khối
4.2 Lãnh vực hạn chế và những quyết định bất nhất
4.2.1 Sản xuất nông ngư nghiệp
4.2.2 Cắt giảm khí nhà kính phát thải
4.3 Lợi ích quốc gia trong chiến lược phát triển năng lượng, xây thêm nhà máy điện than Vũng Áng 2 và Nghĩa vụ quốc tế
4.4 Việt Nam và những “Công nghệ Thu gom Khí nhà kính phát thải” CCS, BECCS, DAC
5. Kết luận
Tài liệu tham khảo
Trích yếu
Biến đổi Khí hậu (BĐKH) là hiện tượng không thể chối cãi, gây ra bởi sinh hoạt của loài người – cơ bản do tiêu thụ các nguồn năng lượng hóa thạch, thay đổi cách thức sử dụng đất đai và đốn phá cây rừng – làm gia tăng khối lượng khí nhà kính trong khí quyển và từ đó hâm nóng quả địa cầu. Trong vòng hai thập niên vừa qua, BĐKH trở thành mối quan tâm hàng đầu của thế giới trong lãnh vực môi trường.
Hiện nay, gần như mọi người đều đồng ý là họat động trong hơn 150 năm vừa qua của nền kỹ nghệ Âu Mỹ đã gây ra BĐKH vì thế các quốc gia phát triển này phải nhận lãnh trách nhiệm và đi đầu trong việc cắt giảm khí nhà kính phát thải, điều chỉnh đường lối phát triển hướng đến một nền kinh tế ít phụ thuộc vào năng lượng carbon; ngoài ra phải đóng góp tài chánh và viện trợ kỷ thuật cho các quốc gia đang phát triển thích ứng với BĐKH.
Những thách thức gây ra bởi hiện tượng BĐKH rất phức tạp này ảnh hưởng đến cuộc sống của số đông quần chúng, đặc biệt ở những quốc gia đang phát triển như Việt Nam (VN), nơi sẽ bị tổn hại nhiều nhứt vì không đủ khả năng để thích ứng và đối phó với những rủi ro và tai họa gây ra bởi BĐKH.
Thỏa thuận đạt được giữa 194 quốc gia và Liên hiệp các quốc gia Âu châu (EU) ở Hội nghị Thượng đỉnh COP 21 (Conference of Parties 21) ở Paris năm 2015 về BĐKH với mục tiêu cụ thể lâu dài kiềm giữ nhiệt độ toàn cầu tăng ≤ 2,0°C với kỳ vọng chỉ 1,5°C vào cuối thế kỷ 21 là một tiến bộ quan trọng có ý nghĩa lịch sử so với COP 15 ở Copenhaghen, đưa công tác ứng phó với BĐKH trở lại vị trí trung tâm của sinh hoạt chánh trị toàn cầu, và có một mục đích chung là hợp tác để đối phó với BĐKH.
Tuy nhiên giới hạn nhiệt độ khí quyển gia tăng ≤ 2.0°C với kỳ vọng 1,5°C không chặn đứng được tình trạng nước biển dâng cao (NBDC), do đó sản xuất kỹ nghệ và nông ngư nghiệp của VN vẫn bị thiệt hại.
ĐBSCL nằm trong khu nhiệt đới, có nền kinh tế nông nghiệp, và năng xuất của các lọai hoa màu bị chi phối bởi nhiệt độ và độ ẩm, vì thế sẽ bị ảnh hưởng trầm trọng khi nhiệt độ không khí gia tăng và lượng mưa thay đổi; ngoài ra còn sẽ gánh thêm những hệ lụy của nước biển dâng cao, ảnh hưởng đến ngành nuôi trồng thủy sản ở vùng ven biển và diện tích canh tác nông nghiệp sẽ bị thu hẹp lại.
Vào tháng 08/2021 vừa qua báo cáo của IPCC 2021 cho thấy viễn ảnh đen tối về những tác động của BĐKH, quả đất đang trên đà bị hâm nóng thêm 1.5°C, và trong vòng 2 thập niên sẽ chạm ngưỡng 1.5°C nếu khí nhà kính tiếp tục được phát thải với mức độ như hiện nay. IPCC kêu gọi mỗi quốc gia phải mạnh mẽ cắt giảm 50% khối lượng khí nhà kính phát thải so với năm 2005.
Vì thế Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) từ nhiều năm qua đã tiến hành quy hoạch thủy lợi ĐBSCL thích ứng với những tác động của nước biển dâng cao: thiết lập các hệ thống thủy văn cảnh báo thiên tai, gia cố các hệ thống đê biển, đê sông, hệ thống thủy lợi để cung cấp nước ngọt cho sinh họat tưới tiêu và các nông trường; ngăn đỉnh triều và kiểm soát mặn; kiểm soát lũ, chống ngập úng và xây dựng những cụm dân cư vượt lũ. Tuy nhiên để công trình quy hoạch thủy lợi này có những giá trị bền vững, Việt Nam cần kiểm soát chặt chẽ khai thác nước ngầm và đốn phá rừng đước, hạn chế canh tác lúa vụ 3 và việc chuyển dòng nước sông Hậu để phục vụ sản xuất thủy sản ở vùng ven biển.
Là quốc gia đang phát triển, Việt Nam không có nghĩa vụ nhưng đã tích cực áp dụng những biện pháp cắt giảm khí nhà kính trong các lãnh vực năng lượng, nông nghiệp, sử dụng đất-thay đổi sử dụng đất-lâm nghiệp (LULUCF) và kỹ nghệ cùng giao thông vận tải, bên cạnh việc triển khai các dự án phát triển năng lượng tái tạo và năng lượng sinh học. Tuy thế vẫn còn một số sinh hoạt phát thải lượng khí nhà kính đáng kể như ở các khu chế xuất, bến cảng, cảng hàng không, cao ốc, chung cư chưa được chú tâm đến. Quan ngại hơn cả là quyết định mới đây của Việt Nam tiếp tục xây thêm nhà máy điện than Vũng Áng 2 ở Hà Tĩnh và việc Thủ tướng Chánh phủ Ông Phạm Minh Chính vừa phê duyệt dự thảo chiến lược phát triển năng lượng của Việt Nam theo đó sản lượng điện than của Việt Nam có thể tăng gấp đôi vào năm 2030 so với năm 2020. Những quyết định này bất chấp cam kết trước đây của VN ở Hội nghị COP 21 ở Paris năm 2015, là sẽ cắt giảm khí phát thải 8% vào năm 2030 so với năm 2005, ngoài ra cho thấy thái độ không màng đến lời kêu gọi cắt giảm mạnh mẽ khí nhà kính trong thập niên 2020s của IPCC 2021 và “phớt lờ” cảnh báo của Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres cho rằng cam kết chống biến đổi khí hậu phải cao hơn gấp 7 lần so với hiện nay để giữ cho nhiệt độ không tăng thêm quá 1,5°C và với những cam kết như hiện nay, nhiệt độ Trái đất sẽ tăng thêm ít nhất 2,7°C.
Tuy nhiên những động thái này của Việt Nam có thể hiểu được: vì trong bất cứ một hiệp ước hay thỏa thuận nào được ký kết, quyền lợi quốc gia cũng phải được tôn trọng bên cạnh nghĩa vụ quốc tế và Việt Nam là quốc gia đang phát triển nên có nhu cầu về năng lương rất cao và tiếp tục gia tăng và đó chính là căn nguyên của chiến lược phát triển năng lượng của Việt Nam.
Hơn thế nữa nếu than sạch được sử dụng làm nhiên liệu và công nghệ CCS là một bộ phận trong thiết kế của nhà máy điện than (như đang được thực hiện ở Iceland, Na uy, Thụy Sĩ, Nhật Bản )thì điện than VN sẽ trở thành nguồn năng lượng XANH thân thiện với môi trường, cung cấp nguồn điện lực bền vững, không phụ thuộc vào điều kiện thời tiết nắng gió của điện mặt trời và điện gió và an toàn không gây ra những chống đối vì quan ngại về rò rỉ chất phóng xạ từ các nhà máy điện hạt nhân.
Trong số các quốc gia ký kết thỏa ước Paris 2015, không chỉ Việt Nam là quốc gia duy nhứt xây thêm nhà máy điện than. Trung Quốc cũng đang xây mới 60 và Nhật Bản trên đà có thêm 22 nhà máy điện than trên khắp đất nước của họ.
Để đạt được net-zero phát thải vào năm 2050 hay sớm hơn, ngoài các kế hoạch cắt giảm khí thải và trồng thêm 1 tỷ cây xanh, Việt Nam cần phải tự mình hay với sự hỗ trợ của các quốc gia Âu Mỹ nghiên cứu phát triển các “Công nghệ Thu gom và Tồn trữ Khí nhà kính” như CCS, BECCS và DAC.
Hành trình của Con Tàu Định Mệnh Paris 2015 hẳn không suôn sẻ nhưng hy vọng sau cùng sẽ đến được bến bờ mong đợi.
Thỏa thuận đạt được giữa 194 quốc gia và Liên hiệp các quốc gia Âu châu (EU) ở Hội nghị Thượng đỉnh COP 21 (Conference of Parties 21) ở Paris năm 2015 về Biến Đổi Khí Hậu (BĐKH) (1) là một tiến bộ quan trọng có ý nghĩa lịch sử so với COP 15 ở Copenhaghen (2), đưa công tác ứng phó với BĐKH trở lại vị trí trung tâm của sinh hoạt chánh trị toàn cầu, và có một mục đích chung là hợp tác để đối phó với BĐKH bằng cách
• Giới hạn mức độ quả đất bị hâm nóng
• Đóng góp tài chánh để giúp các quốc gia đang phát triển có đủ khả năng tham gia vào những kế hoạch ứng phó với những tác động của BĐKH
• Thu gom toàn bộ khối lượng khí nhà kính (Greenhouse Gas GHG) phát thải
Là một trong 4 quốc gia gánh chịu những tác động tiêu cực năng nề nhứt gây ra bởi BĐKH nên đương nhiên Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) hoan nghênh kết quả này. Ở Hội nghị Thượng đỉnh Paris COP 21, CHXHCNVN đã cam kết sẽ cắt giảm 8% lượng khí nhà kính phát thải vào năm 2030 so với năm 2005 (3) và có thể giảm đến 25% nếu nhận được sự hỗ trợ hiệu quả từ cộng đồng quốc tế; ngoài ra còn hứa sẽ trồng thêm 1 tỷ cây xanh (4) và đóng góp 1 triệu mỹ kim vào Quỹ Khí hậu Xanh trong giai đọan 2016-2020 (5).
1. Phát triển kinh tế của Việt Nam bị đe doạ bởi BĐKH
Phát triển kinh tế của Việt Nam gắn liền với địa hình đặc biệt của một quốc gia trải dài từ Bắc xuống Nam dọc theo bờ biển dài 3200km với 112 cửa sông. Vùng duyên hải, nơi cư ngụ của hơn 74% dân số là cột sống của nền kinh tế Việt Nam: 80% sản xuất kỹ nghệ của Việt Nam tập trung trên vùng đất nhỏ hẹp từ Hải Phòng đến Thành Phố Hồ Chí Minh. Sản xuất nông nghiệp chủ yếu ở những vùng đất thấp, đóng góp 24% GDP, 30% hàng xuất khẩu và riêng châu thổ đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đóng góp 45,8% nông phẩm của toàn quốc và 80% lượng gạo xuất khẩu mỗi năm.
Theo những dự đoán của Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam (MONROE) đến năm 2100 mực nước biển dọc theo bờ biển VN có thể dâng cao 1m. Nước biển dâng cao (NBDC) phối hợp với giông bão sẽ là mối đe dọa nghiêm trọng lên các thành phố vùng duyên hải, các hải cảng, các cơ sở hạ tầng, và trong trường hợp hạn hán gay gắt nước mặn xâm nhập sâu hơn vào nội địa, đặc biệt ở vùng châu thổ ĐBSCL.
Vì thế thử hỏi Thỏa ước Paris 2015 có giúp VN hoàn toàn thoát khỏi những tác động của BĐKH không?
Báo cáo của Ủy Ban Liên Chánh Phủ IPCC (Intergovernmental Panel on Climate Change) 2007 về BĐKH, cho thấy khi nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng 1,5OC, mực nước biển ở Biển Đông sẽ dâng cao khoảng 0,51 – 0,66m vào năm 2100 (6) và như thế:
• một phần của các khu kinh tế ở châu thổ sông Hồng, Đông Bắc phần (Quảng Ninh), Bắc và Nam Trung phần từ Quảng Bình, Thừa Thiên-Huế, Đà Nẵng, Khánh Hoà đến Bình Định và ở Đông Nam phần cũng sẽ bị ngập nước.
• Trung phần Việt Nam có nhiều dòng sông ngắn bắt nguồn từ dãy Trường Sơn, chảy ra các vùng đồng bằng duyên hải nên trong tương lai khi mực nước biển dâng cao 0,51-0,66 m và trong trường hợp có mưa to trong nhiều ngày sẽ tạo nên lũ lụt kéo dài hơn so với hiện tại.
• Riêng ĐBSCL, do dòng chảy sông Mekong dao động rất mạnh theo mùa nên hằng năm bị ngập nước vào mùa mưa (mùa nước nổi ở miền Tây) và ngập mặn vào mùa khô và khi nước biển dâng cao 0,51-0,66m tình trạng ngập theo mùa này sẽ trầm trọng hơn so với hiện nay. Theo những dự đoán của MONROE 2012 và Viện Thủy Lợi miền Nam:
Vào mùa mưa khi NBDC 0,5m
• 34% diện tích ĐBSCL bị ngập nước so với 20% năm 2005
• thêm 9% ngập sâu hơn 1m, trong đó có 3% ngập hơn 6 tháng và
• thêm 17% diện tích ĐBSCL ngập sâu hơn 0,5m và kéo dài trên 6 tháng
• và gặp lúc có những trận lụt lớn như trong năm 2000 tình trạng ngập nước ở ĐBSCL vào mùa mưa trở nên tồi tệ hơn nhiều và một diện tích rộng lớn hơn sẽ bị ngập nước:
– diện tích ngập sâu > 0,5m tăng thêm 1.090.000ha (2.300.00 3.390.00)
– diện tích ngập sâu > 1,0m tăng thêm 344.400ha (1.100.000 1.444.400).
– 37% diện tích ĐBSCL có thể bị ngập nước sâu > 1,0m và sẽ kéo dài thêm 1 tháng
Vào mùa khô khi NBDC 0,5m
• ở sông Tiền nước mặn vào sâu thêm 9,6km hay sâu 49,9km tính từ cửa Tiểu, và ở sông Hậu vào sâu thêm 11,0km hay sâu 51,0km tính từ cửa Định An.
• diện tích ngập mặn nồng độ 1g/l tăng thêm 120.676ha, tổng cộng trên 2 triệu ha bị ngập mặn có nồng độ 1g/l và diện tích bị ngập mặn nồng độ 4g/l tăng thêm 83.112ha đưa tổng số diện tích bị ngập mặn nồng độ 4g/l lên đến hơn 1,6 triệuha.
Tóm lại dù những mục tiêu của Thỏa ước Paris 2015 hoàn toàn đạt được, nước biển vẫn tiếp tục dâng cao 0,51-0,66m vào cuối thế kỷ XXI, đủ để gây ra những tổn thất đáng kể đối với những khu kỹ nghệ tập trung ở vùng duyên hải cũng như trong canh tác nông ngư nghiệp, gây khó khăn cho cuộc sống của người dân toàn quốc nói chung và ĐBSCL nói riêng.
2. Báo cáo của IPCC 2021
Báo cáo của IPCC 2021 còn cho thấy viễn ảnh đen tối hơn về những tác động của BĐKH, quả đất đang trên đà bị hâm nóng thêm 1.5°C, và trong vòng 2 thập niên sẽ chạm ngưỡng 1.5°C nếu khí nhà kính tiếp tục được phát thải với mức độ như hiện nay (7). (Bảng tóm tắt 1 và 2)

Bảng tóm tắt 1. Giải thích nội dung của báo cáo IPCC 2021: Phương cách nào phải áp dụng để quả đất chỉ bị hâm nóng thêm 1,5°C vào năm 2100? Nguồn: 5 Big Findings from the IPCC’s 2021 Climate Report August 9, 2021 by Kelly Levin, David Waskow and Rhys Gerholdt.

Bảng tóm tắt 2. Giải thích nội dung của báo cáo IPCC 2021: Thời điểm bầu khí quyển chạm ngưỡng +1,5°C, +2°C, +3°C và +4°C. Nguồn: 5 Big Findings from the IPCC’s 2021 Climate Report August 9, 2021 by Kelly Levin, David Waskow and Rhys Gerholdt.
Thật vậy chỉ cần phát thải thêm 400 Gigatonnes khí carbonic, với mức độ 36,4 Gigatonnes/năm như hiện nay thì sau 11 năm, nhiệt độ của khí quyển sẽ chạm ngưỡng +1,5°C. Vì thế IPCC kêu gọi mỗi quốc gia phải mạnh mẽ cắt giảm 50% khối lượng khí nhà kính phát thải so với năm 2005 (7).
Hoa Kỳ, Anh Quốc và Liên hiệp các quốc gia Âu châu (EU) đã đưa ra những cam kết cắt giảm, trong khi Trung Quốc sẽ không hỗ trợ xây thêm các nhà máy điện than ở nước ngoài, đồng thời cam kết cắt giảm khí nhà kính phát thải (8).
3. Những kế hoạch ứng phó của Việt Nam
Nhận thấy mối đe dọa gây ra bởi BĐKH đối với phát triển kinh tế của Việt Nam và đặc biệt đối với ĐBSCL nên Việt Nam đã tiến hành những kế hoạch như:
3.2 Cắt giảm khí nhà kính phát thải
Việt Nam đang trên đà phát triển nhanh chóng sau chiến tranh; công nghiệp là ngành có tốc độ tăng trưởng cao nhất và đóng góp lớn vào nền kinh tế của Việt Nam nên nhu cầu năng lượng và lượng khí nhà kính phát thải ngày càng gia tăng.
Năm 2014 Bộ Bộ Tài Nguyên và Môi Trường (TN&MT) báo cáo kết quả kiểm kê khí nhà kính, xác định ba lãnh vực: năng lượng; nông nghiệp; sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp (Land Use, Land use Change and Forestry-LULUCF) và gần đây thêm các khu chế xuất và giao thông vận tải là những nguồn phát khí thải chính tại Việt Nam (10).
Mặc dù là một quốc gia đang phát triển không có nghĩa vụ cắt giảm khí nhà kính nhưng CHXHCNVN đã nhanh chóng phê chuẩn Nghị định thư Kyoto (11) và tự nguyện tham gia vào kế hoạch “Dự kiến quyết tâm đóng góp của từng quốc gia (12) (Intended National Determined Contribution-INDC). Được sự hỗ trợ của các quốc gia Bắc Âu, Đức, Úc v.v. Việt Nam đã thiết lập những phương án để cắt giảm khí nhà kính phát thải.
3.2.1 Năng lượng
Trong bối cảnh tiềm năng thủy điện lớn cơ bản đã khai thác hết, nhiệt điện than khó thu xếp vốn quốc tế do cam kết chống biến đổi khí hậu toàn cầu, chính vì vậy nên việc phát triển năng lượng tái tạo nói chung được Việt Nam chú trọng (13).
• Năm 2014 chính phủ đã phê duyệt dự án “Quy hoạch phát triển điện gió” nhằm đẩy mạnh phát triển nguồn năng lượng tái tạo và gần đây “Cục Điện lực và Năng lượng Tái tạo”, thuộc Bộ Công Thương, phối hợp với Ngân hàng Thế giới và Cơ quan Năng lượng Đan Mạch nghiên cứu, xác định lộ trình phát triển điện gió ngoài khơi Việt Nam, với mục tiêu được đặt ra là năng lượng tái tạo đạt 24,3 – 25,7% tổng công suất lắp đặt của hệ thống điện quốc gia vào năm 2030. Các trang trại điện gió (wind farm) sẽ được xây dựng tại 25 vị trí ngoài khơi với công nghệ móng cố định (fix bottom foundation) và tại 17 vị trí với công nghệ móng nổi (floating foundation) (14)

Hình 1. Nhà máy điện gió đầu tiên ở Việt Nam được xây dựng tại tỉnh Bạc Liêu. Nguồn: Tuổi Trẻ
Ngoài điện gió (Hình 1) điện mặt trời (15) là nguồn năng lượng tái tạo khác được Việt Nam khai thác.
Việt Nam có tiềm năng lớn về năng lượng mặt trời do ở gần xích đạo và tồn tại những vùng khô, nắng nhiều như An Giang, Tây Ninh (Hình 2) ở vùng biên giới giáp ranh Cao Miên và Khánh Hòa, Bình Thuận, Ninh Thuận v.v. ở Nam Trung Bộ. Theo số liệu từ Điện lực VN, đến thời điểm hiện tại, tổng công suất lắp đặt điện mặt trời trên cả nước đã đạt tới khoảng 16.500MW trong đó có gần 1/2 là điện mặt trời mái nhà (16).

Hình 2: Tây Ninh phát triển mạnh mô hình sử dụng điện Mặt Trời. Nguồn: https://www.vietnamplus.vn/tay-ninh-phat-trien-manh-mo-hinh-su-dung-dien-mat-troi/579252.vnp
Ở Tây Ninh Công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn (TNHH) Xuân Cầu và Công ty TNHH B. Grimm Power Pulic đã xây dựng nhà máy điện mặt trời Dầu Tiếng tại Tân Châu (Tây Ninh). Cụm nhà máy có 1.3 triệu tấm pin với công suất 500 MW, đây là nhà máy điện mặt trời lớn nhất Đông Nam Á.
Bên cạnh hai nguồn năng lượng tái tạo, Điện lực Việt Nam còn đầu tư sản xuất năng lượng từ khí đốt thiên nhiên hóa lỏng (Liquefied natural gas LNG) như trong dự án Trung tâm điện LNG Cà Ná công xuất 4600MW (17).

Hình 3. Nhà máy điện khí Ô Môn, Cần Thơ.Nguồn: baodautu.vn
– Bộ Công Thương và Tập đoàn Dầu Khí Việt Nam cũng đã ký kết những thỏa thuận với các Tập đoàn Dầu Khí của Hoa Kỳ như General Electric, Delta Offshore Energy, Bechtel, Exon Mobil để xây dựng nhiều nhà máy phát điện sử dụng khí đốt hóa lỏng ở Cần Thơ (Hình 3), Bạc Liêu, Long An, Ninh Thuận, Lăng Cô, Sơn Mỹ, Hải Phòng v.v. (18).
3.2.2 Nông nghiệp
Có hai phương án giảm nhẹ khí nhà kính phát thải trong nông nghiệp được xây dựng:
– Dựa vào những kết quả nghiên cứu khoa học của dự án CLUES về “Sự thích ứng của hệ thống canh tác lúa trước những ảnh hưởng của BĐKH” do Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế của Úc (Australian Centre for International Agricultural Research ACIAR) và Cơ quan Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ CSIRO (The Commonwealth Scientific and Industrial Research Organisation) Úc hỗ trợ (19, 20), phương pháp nông-lộ-phơi được áp dụng, bằng cách tưới khô ướt xen kẻ. Tiềm năng giảm nhẹ phát thải khí nhà kính của phương án này là 1,47 triệu tấn CO2 tương đương mỗi năm.
– Tái sử dụng phế phụ phẫm lúa làm phân ủ compost để tạo năng lượng sinh khối. Tiềm năng giảm nhẹ phát thải khí nhà kính là 9,34 triệu tấn CO2 tương đương mỗi năm.
3.2.3 Sử dụng đất đai, thay đổi sử dụng đất đai và lâm nghiệp (LULUCF)
Có ba phương án giảm nhẹ phát thải khí nhà kính được xây dựng với tổng tiềm năng giảm phát thải là 792 triệu tấn CO2: Trồng tập trung rừng hỗn giao các loại cây bản địa gỗ lớn, xúc tiến tái sinh rừng kết hợp trồng bổ sung cây bản địa và quản lý rừng cộng đồng.
3.2.4 Kỹ nghệ và Giao thông Vận tải
– Sản xuất xi măng: Quỹ phát triển Bắc Âu hỗ trợ Việt Nam xây dựng và phát triển kế hoạch giảm nhẹ phát thải khí nhà kính phù hợp với điều kiện quốc gia (kế hoạch National Appropriate Mitigation Action-NAMA) (21) và theo ước tính đến năm 2030, lượng khí nhà kính sẽ giảm khoảng 138-166 triệu tấn khí CO2 tương đương.
– Thêm vào đó CHXHVN quyết định kể từ 2020 bỏ hoàn toàn trợ giá nhiên liệu hóa thạch.
– chuyển đổi sử dụng khí dầu mỏ hóa lỏng (Liquefied Petroleum Gas LPG), hổn hợp ethanol – xăng trong giao thông vận tải
– Gần đây trong chuyến thăm của Phó Tổng Thống Hoa Kỳ Kamala Haris, Cơ quan USAID của Hoa Kỳ cho biết sẽ tài trợ Việt Nam 36 triệu mỹ kim trong dự án 5 năm “Năng lượng phát thải thấp Việt Nam II” (V-LEEP II) nhằm đẩy mạnh quá trình chuyển đổi sang một hệ thống năng lượng sạch, mở rộng quy mô sử dụng xe máy điện và quyết định này rất phù hợp với kế hoạch sản xuất xe máy điện của Tập đoàn Vingroup của Việt Nam (9, 22).
4. Nhận xét
Các kế hoạch ứng phó tác động của BĐKH ở ĐBSCL và cắt giảm khí nhà kính của Viêt Nam tuy xem ra rất tích cực nhưng không thiếu phần hạn chế và bất nhất.
4.1 Mặt tích cực
4.1.1 Quy hoạch ứng phó BĐKH
Quả địa cầu sẽ bị hâm nóng ít nhứt là 1,5°C trong thời gian vài thập niên sắp tới dù khí nhà kính phát thải có được cắt giảm mạnh mẽ hay không và khi đó NBDC 0,51-0,66m. Như thế tình trạng ngập nước trong mùa mưa và ngập mặn trong mùa khô ở ĐBSCL sẽ trầm trọng hơn so với hiện nay như đã trình bày bên trên. Và để tự cứu mình Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam đã phác họa kế hoạch ứng phó, để có đủ nước ngọt dùng cho sinh hoạt, tưới tiêu cũng như thiết kế các công trình ngăn mặn, thoát lũ.
4.1.2 Cắt giảm khí nhà kính phát thải
Ngoài những phương án cắt giảm khí nhà kính phát thải và phát triển năng lượng tái tạo, Việt Nam còn có thêm hai dự án sau đây:
4.1.2.1 Phát triển năng lượng Hydrogen Xanh
– Dự án hợp tác giữa Viện Dầu khí Việt Nam và Tập đoàn quốc tế Großmann Ingenieur Consult GmbH (GICON®) ứng dụng các công nghệ mới (23): sử dụng điện gió – khi không được huy động- để sản xuất khí Hydrogen từ nước biển; sử dụng công nghệ sinh học và điện giải nước để chuyển hóa sinh khối (Biomass) thành methane sinh học. Đây là điểm rất khích lệ cho thấy Việt Nam bắt đầu nhận ra giá trị về năng lượng và ứng dụng của khí Hydrogen. Ước mong những dự án về khí Hydrogen XANH được triển khai rộng rải hơn như:
* trong tồn trữ năng lượng Hydrogen dưới dạng Hydrogen pin (Hình 4)
* về chất liệu tiền-năng lượng (pro-energy substance) để việc vận chuyển và phân phối khí Hydrogen đến các trạm bơm được đơn giản và an toàn (Hình 5)
nhằm đáp ứng nhu cầu năng lượng sạch trong sản xuất và giao thông vân tải.

Hình 4. Pin nhiên liệu Hydrogen. Nguồn: genk.vn

Sơ đồ 1. Sản xuất điện năng của khí Hydrogen. Nguồn: genk.vn
Không như pin thông thường, pin nhiêu liệu Hydrogen là nguồn sản xuất điện sạch do không xảy ra phản ứng đốt cháy nhiên liệu, hầu như không gây ra tiếng ồn, không phát ra các chất thải gây ô nhiễm trong quá trình phản ứng sản xuất điện, và hiệu quả sinh năng lượng gấp 2,3 lần động cơ đốt (Sơ đồ 1).

Hình 5. Trạm bơm Hydrogen, nguyên liệu dùng cho xe điện. Fuel Cell Energy, sử dụng khí gas tự nhiên (LNG) hoặc khí gas tái chế (Methane sinh học) để tạo ra Hydrogen tại các trạm bơm, trong khi CSIRO của Úc sử dụng Ammonia NH3. Nguồn: gamek.vn
4.1.2.2 Sử dụng năng lượng Sinh khối
– Dự án “Lúa gạo: Nguồn năng lượng xanh” do GIZ Việt Nam và Sanofi Việt Nam triển khai chuyển đổi lò hơi sử dụng nhiên liệu hóa thạch sang sử dụng sinh khối trấu, nhằm giảm lượng khí thải và không khí ô nhiễm.
Việt Nam là quốc gia sản xuất lúa gạo lớn thứ 5 trên thế giới với khoảng 10 triệu tấn trấu được tạo ra mỗi năm thông qua quá trình xay xát. Tro do đốt cháy trấu, có hàm lượng cao silica, là nguồn nguyên liệu phụ gia cho công nghệ sản xuất gạch ngói, vật liệu xây cất, phân bón hữu cơ. Thông qua dự án này, chi phí hơi nước sẽ giảm 40% cùng lúc tạo ra các nguyên liệu phụ gia có giá trị kinh tế góp phần vào sự phát triển bền vững của xã hội và môi trường tại Việt Nam (24).
4.2 Lãnh vực hạn chế và những quyết định bất nhất
4.2.1 Trong sản xuất nông ngư nghiệp
ĐBSCL không chỉ bị tác động bởi BĐKH mà còn đứng trước những thử thách khác do chính các kế hoạch sản xuất nông ngư nghiệp gây ra như:
– trong khi NBDC chỉ khoảng 3mm/năm, khai thác nước ngầm thiếu kiểm soát khiến cho ĐBSCL bị sụt lún 10-13mm/năm, gấp nhiều lần so với NBDC (25).
– tiếp tục canh tác lúa vụ 3
– chuyển dòng nước sông Hậu xuống vùng duyên hải để trồng lúa và nuôi trồng thủy sản nước ngọt/lợ
làm trầm trong thêm tình trạng mặn xâm nhập vào mùa khô.
– Rừng đước, ngoài chức năng bảo vệ bờ biển chống sạt lở và giông bão, là thảm thực vật hấp thụ khí nhà kính nhờ phản ứng sinh học quang hợp và tồn trữ carbon dưới dạng than bùn.
(26). Đốn phá rừng đước để lấy đất đào ao nuôi tôm không chỉ làm mất đi 3 chức năng thiên nhiên quý báu nêu trên, mà còn biến các ao nuôi tôm thành các trũng phát thải khí methane (Hình 6,7). Không như những bãi rác và các đống cỏ mụt, rơm rạ, các ao nuôi tôm nằm rải rác khắp nơi, nên việc thu gom khí methane phát thải từ các ao này không thể thực hiện. Methane phóng thích tồn tại trong bầu khí quyển khoảng 12 năm và gây ra hiệu ứng khí nhà kính gấp 28-34 lần so với khí carbonic (27, 28). Những tác động tiêu cực này phải được nhận thấy và không nên vì cái lợi trước mắt của nuôi trồng loại thủy sản này mà cho phép các quận huyện vùng duyên hải tiếp tục đua nhau gia tăng diện tích ao đầm nuôi tôm.
Những sinh hoạt vừa kể của người dân do chủ trương thiếu nhứt quán của các địa phương khiến chúng ta không khỏi hoài nghi về hiệu quả của kế hoạch ứng phó ảnh hưởng của NBDC do tác động của BĐKH mà Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam vạch ra cho ĐBSCL.


Hình 6,7. Ao nuôi tôm sinh thái ở rừng ngập mặn ở huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau. Nguồn: nld.com.vn
4.2.2 Trong cắt giảm khí nhà kính phát thải
*Tuy Việt Nam tỏ ra rất tích cực, nhưng vẫn còn một số lãnh vực chưa được quan tâm trong kế hoạch cắt giảm khí nhà kính như ở các doanh nghiệp sản xuất ô tô, xe máy, vật liệu xây cất; ở các khu chế xuất thực phẩm, phân bón; ở các chung cư, cao ốc, bến cảng, cảng hàng không v.v.
* Ngoài ra trong thời gian gần đây Việt Nam đưa ra những quyết định mang tính bất nhất nếu so với chiến lược triển khai các biện pháp cắt giảm khí nhà kính phát thải:
– Tin tức mới đây cho biết nhà máy điện than Vũng Áng 2 ở Hà Tĩnh (29) sẽ được khởi công vào tháng 12/2021, thêm vào đó vào giữa tháng 10/2021 Thủ tướng Chánh phủ Ông Phạm Minh Chính đã phê duyệt dự thảo chiến lược phát triển năng lượng của Việt Nam theo đó sản lượng điện than của Việt Nam có thể tăng gấp đôi vào năm 2030 so với năm 2020 và Việt Nam cho rằng đó là “một lộ trình hài hòa và cân đối để chuyển đổi năng lượng bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm phát thải khí carbonic”, nhưng lộ trình ‘hài hòa’ này là vào năm 2030, điện than chiếm 31.4%, điện từ khí tự nhiên chiếm 22,4%, thủy điện 20%, năng lượng tái tạo 25,7% (30).
– Những quyết định này không chỉ trái hẳn với cam kết trước đây của VN ở Hội nghị Thượng đĩnh COP 21 ở Paris năm 2015, là VN sẽ cắt giảm khí phát thải 8% đến năm 2030 so với năm 2005, nhưng còn cho thấy thái độ bất chấp của VN trước lời kêu gọi cắt giảm mạnh mẽ khí nhà kính trong thập niên 2020s của IPCC 2021 và “phớt lờ” cảnh báo của Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres cho rằng cam kết chống biến đổi khí hậu phải cao hơn gấp 7 lần so với hiện nay để giữ cho nhiệt độ không tăng thêm quá 1,5°C và với những cam kết như hiện nay, nhiệt độ Trái đất sẽ tăng thêm ít nhất 2,7°C (31).
4.3 Lợi ích quốc gia trong chiến lược phát triển năng lượng, xây thêm nhà máy điện than Vũng Áng 2 và Nghĩa vụ quốc tế
Qua xem xét tất cả các kịch bản phát thải khí nhà kính từ B1, A1T, B2, A1B, A2, đến A1FI (32) báo cáo mới đây của IPCC 2021 nhấn mạnh cả hai mục tiêu giữ mức tăng nhiệt độ toàn cầu dưới 2.0OC trong thế kỷ này và theo đuổi các nỗ lực giữ cho nhiệt độ không tăng quá 1,5°C sẽ không đạt được trừ khi các quốc gia cắt giảm mạnh mẽ khí thải carbonic để nhiệt độ khí quyển tăng 1,5°C vào năm 2040 và nếu khuyến cáo này không được thực hiện trong vài năm sắp tới, ngưỡng +1,5°C sẽ chạm đến sớm hơn.
Vì thế cắt giảm manh mẽ khí nhà kính phát thải là điều tất yếu phải thực hiện. Như thế những động thái gần đây của Việt Nam như sẽ khởi công xây thêm nhà máy điện than ở Vũng Áng và chiến lược phát triển năng lượng quốc gia đến năm 2030 của Việt Nam lấy gì để biện minh.
* Trong bất cứ một hiệp ước hay thỏa thuận nào được ký kết, quyền lợi quốc gia cũng phải được tôn trọng bên cạnh nghĩa vụ quốc tế và phải chăng đây là căn nguyên của chiến lược năng lượng của Việt Nam. Động thái này của Việt Nam cũng được Trung Quốc, Nhật Bản và Úc chia sẻ ở đây.
– Việt Nam là quốc gia đang phát triển nên có nhu cầu năng lượng rất cao và tiếp tục gia tăng. Về mặt kỹ thuật Viêt Nam chưa có đủ điều kiện để xây dựng và vận hành nhà máy điện hạt nhân cung cấp điều hòa điện năng, trong khi nguồn năng lương tái tạo điện gió và điện mặt trời bị ảnh hưởng bởi gió, nắng, thiếu ổn định, có thể bị gián đoạn bởi thời tiết thay đổi. Vì thế việc duy trì các nhà máy điện than trong chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam là cần thiết.
Các nhà máy điện sử dụng khí đốt, sinh khối, dầu diesel làm nhiên liệu cũng phát thải khí nhà kính nhưng tại sao lại chỉ nhắm vào than đá như là thủ phạm duy nhứt. Nếu than đá sạch được dùng làm nhiên liệu và công nghệ CCS là một bộ phận trong thiết kế của nhà máy điện than thì điện than sẽ trở thành nguồn năng lượng XANH thân thiện với môi trường, cung cấp bền vững điện năng, không phụ thuộc vào điều kiện thời tiết nắng gió và an toàn không gây ra những chống đối do quan ngại về rò rỉ chất phóng xạ từ nhà máy điện hạt nhân.
Hơn thế nữa trong thời điểm hiện nay Việt Nam không phải là quốc gia đơn độc, trong số 194 quốc gia ký kết Thỏa ước Paris 2015, xây thêm nhà máy điện than.
– Trung Quốc là quốc gia phát thải carbon dioxide nhiều nhất thế giới nhưng Chủ tịch Tập Cẩm Bình cho biết đất nước của ông đặt mục tiêu phát thải đạt mức cao nhất trước năm 2030 và đạt được mức độ trung hòa carbon vào năm 2060 (thay vì phải bắt đầu cắt giảm như trong Sơ đồ 2 hay manh mẽ ngay từ bây giờ và trung hòa carbon khoảng 2050 hay sớm hơn theo đề nghị của IPCC 2021) (33).

Sơ đồ 2. Khối lượng khí nhà kính phát ngày càng gia tăng của Trung Quốc và con đường cắt giảm cần thiết để giới hạn mức độ ấm nóng ở 1,5°C.
Và không những chưa đóng cửa các nhà máy nhiệt điện than, Trung Quốc hiện đang xây dựng các nhà máy mới tại hơn 60 địa điểm trên khắp đất nước, nhiều địa điểm có hơn một nhà máy điện than (33).
– Trong khi đó Nhật Bản nằm trong nhóm 5 quốc gia phát thải nhiều nhứt khí nhà kính cũng đang xây thêm 22 nhà máy điện than để thay thế dần các nhà máy điện hạt nhân sau sự cố động đất và sóng thần ngày 11/03/2011 và tiếp đến là thảm họa của nhà máy điện hạt nhân Fukushima Daiichi làm thiệt mạng 18,000 cư dân trên đảo Honshu (34).
– Thỏa ước Paris COP 21 và phúc trình của IPCC 2021 được xem như tiếng chuông cảnh báo sự cáo chung của kỹ nghệ than đá, nguồn tài nguyên đem lại phồn thịnh cho xã hội Úc. Tuy nhiên một quan chức cấp cao của chính phủ Úc đã bác bỏ “lập luận cần đóng cửa các nhà máy điện than” (35). Cam kết của Úc đến năm 2030 sẽ cắt giảm 26-28% khí thải so với năm 2005 bị chỉ trích là quá thấp nhưng chánh phủ Liên bang Úc vẫn không thay đổi mức độ cắt giảm này vì khối lượng khí nhà kính Úc phát thải ít hơn 1% lượng khí thải tổng thể và chỉ bằng 1/19 so với Trung Quốc, 1/11 so với Hoa Kỳ, 1/5 so với Ấn Độ, 1/4 so với Brazil và 1/3 so với Rusia (36). Úc sẽ ứng dụng những tiến bộ về khoa học và công nghệ để bảo đảm kỹ nghệ than đá của Úc không bị khai tử: các nhà máy điện sử dụng than đá sạch của Úc sẽ được trang bị với công nghệ CCS và nhiệt điện của Úc sẽ trở thành nguồn năng lượng XANH, an toàn và bền vững. Và than đá sạch của Úc sẽ tiếp tục là nguồn nguyên liệu cung ứng đầy đủ cho nhu cầu của thế giới.
4.4 Việt Nam và “Công nghệ Thu gom và Tồn trữ khí nhà kính”: CCS, BECCS, DAC (37,38, 39).
Các nhà máy điện sử dụng khí đốt và sinh khối, công nghệ lọc dầu, các nhà máy sản xuất xi măng, lúa gạo, phân bón, v.v. cũng phát thải khí CO2 và quan trong hơn cả là sản lượng điện từ các nhà máy điện than của Việt Nam có thể được nâng lên gấp đôi vào năm 2030 (30) nên Việt Nam cần đến “Công nghệ Thu gom và Tồn trữ khí nhà kính” để có thể đạt được mục tiêu net-zero phát thải đúng theo tinh thần của Thỏa ước Paris 2015.
Phải chăng vì thế mà trong chuyến công du vào tháng 9/2021 sang New York tham dự phiên họp của Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc, Chủ Tịch Nước CHXHCNVN Ông Nguyễn Xuân Phúc đã tiếp xúc và đề nghị Tập đoàn Next Decade nghiên cứu khả năng mở rộng đầu tư, hợp tác kinh doanh, cung cấp các giải pháp giảm thải CO2 cho các cơ sở sản xuất kinh doanh tại Việt Nam (40)?
Tuy nhiên Việt Nam có tiềm năng tạo ra một “Chu trình Khép kín” (Closed circuit) trong sản xuất năng lượng với kết quả net-zero phát thải, nếu trong dự án giữa Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) và Tập đoàn quốc tế Großmann Ingenieur Consult GmbH (GICON®) khai triển năng lượng Hydrogen XANH, có thêm phần phát triển “Công nghệ Thu gom và Tồn trữ khí nhà kính” như CCS, BECCS hay DAC (Sơ đồ 3, 4, 5, 6, 7).
“Công nghệ Thu gom và Tồn trữ khí nhà kính CSS” đã được Iceland, Na Uy, Nhật Bản, Trung Quốc (41, 42, 43, 44) đầu tư xây dựng và sử dụng và kỹ nghệ điện than của Úc chắc chắn cũng sẽ được trang bị với công nghệ “CCS” này để không bị khai tử và các công nghệ CCS, BECCS, DAC (Hình 9,10,11) sẽ liên tục được cải tiến để nâng cao hiệu suất và sử dụng rộng khắp trên thế giới để thu gom và tồn trữ khí nhà kính.
Vì thế nên chăng Việt Nam:
- Nghiên cứu kế hoạch hợp tác với Cơ quan Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ CSIRO của Úc hay với Cơ quan USAID của Hoa kỳ qua dự án “Năng lượng Phát thải thấp Việt Nam II” (V-LEEP II) chẳng hạn
hoặc giả - phối hợp với các quốc gia khác như Ba Lan, Nam Dương, Ấn Độ và tìm sự hỗ trợ về tài chánh và kỷ thuật từ “Quỹ Khí Hậu Xanh”.
để phát triển công nghệ CCS, BECCS và DAC.
- Ngoài ra CO2 thu gom được có những giá trị kinh tế, vì có thể dùng trong sản xuất năng lượng sinh học (Sơ đồ 8), tận thu dầu hỏa từ các giếng dầu gần cạn (Sơ đồ 9, 10) và trong các chế xuất khác từ thực phẩm, nước uống có hơi, nuôi trồng rong biển đến tổng hợp hóa chất, cồn methanol, plastics, sợi carbon (carbon fibre), bê tông dẻo v.v.

Sơ đồ 3. Những phản ứng hóa học khác nhau ở nhiệt độ cao để thu gom khí CO2 của công nghệ “Nhiệt điện+CCS”. Nguồn: How Carbon Capture Works.

Sơ đồ 4. Khí CO2 được thu gom hoặc phóng thích vào không khí từ các khu kỹ nghệ được trang bị với hoặc không có hệ thống CCS. CO2 thu gom được tồn trữ ở các tầng địa chất trong lòng đại dương hoặc được dùng trong công nghệ chế xuất bê tông dẻo có hàm lượng xi măng thấp.

Hình 9. Một phần của công nghệ Tomakomai CCS ở Hokkaido, Japan.
Nguồn: REUTERS/Aaron Sheldrick.

Sơ đồ 5. Các giai đoạn chánh và ứng dụng trong sản xuất năng lượng sinh học của công nghệ Bio Energy with Carbon Capture and Storage (BECCS). Nguồn: Energy & Environmental Science. Royal Society of Chemistry.

Hình 10. Nhà máy nhiệt điện trang bị công nghệ BECCS ở Drax, Anh quốc. Nguồn industryeurope.com

Sơ đồ 6. Những phản ứng hóa học căn bản của chu trình thu hút trực tiếp khí CO2 trong không khí (DAC). Nguồn: Carbon Engineering.

Sơ đồ 7. Dữ liệu vào (inputs) và ra (outputs) của công nghệ DAC. Nguồn: Carbon Engineering.

Hình 11. Nhà máy, vận hành thương mại đầu tiên trên thế giới, thu hút trực tiếp khí CO2 trong không khí (DAC) ở Thụy Sĩ. Nguồn: dezeen.com/2017/06/06/world-first-commercial-carbon-capture-plant-switzerland-pollution-technology.

Sơ đồ 8. Ứng dụng công nghệ DAC trong sản xuất năng lượng sinh học. Carbon dioxide thu gom trực tiếp từ không khí (DAC) được công ty xe hơi Audi dùng để chế tạo e-diesel Blue Crude. Nguồn: Blue Crude: Audi pilot produces diesel fuel from CO2 and Water.

Sơ đồ 9. Sử dụng nguồn carbon dioxide thu gom bằng công nghệ CCS để tận thu dầu hỏa từ các giếng dầu gần cạn, phát thải 60g CO2/MJ. Nguồn: Carbon Engineering.
5. Kết luận
Kể từ phúc trình năm 2014 của IPCC (45) loài người vẫn thản nhiên không thay đổi cách sống để tiếp tục phát thải khí nhà kính với mức độ báo động. Phúc trình tháng 8/2021 của IPCC cho thấy một viễn cảnh bi đát hơn so với 7 năm trước đây và thúc dục giới hữu trách mạnh mẽ hành động để giới hạn nhiệt độ của bầu khí quyển tăng không quá 1,5°C.
Nếu tập thể chúng ta thất bại trong việc kiềm chế lượng khí nhà kính phát thải trong thập niên 2020s và không đạt được net-zero phát thải vào khoảng 2050, thì mục tiêu giới hạn nhiệt độ khí quyển tăng không quá 1,5°C sẽ vượt khỏi tầm tay của chúng ta. Và những hiện tượng khí hậu cực đoan mà chúng ta hiện nay thỉnh thoảng trải nghiệm sẽ là những điều kiện sinh sống bình thường trong tương lai.
Đây là thời điểm để các chánh phủ, giới đầu tư, các tập đoàn tài chánh v.v. ra tay hành động đáp ứng tương xứng với tầm vóc của những khủng hoảng mà nhân loại đang đối mặt. Vài hôm nữa đến hội nghị COP 26 về BĐKH tổ chức ở Glasgow, điều cốt lõi là giới hữu trách phải có những đề xuất cắt giảm mạnh mẽ lượng khí thải tính đến năm 2030 và tiến đến net-zero phát thải vào năm 2050 hay sớm hơn. Và những cam kết đưa ra cần phải dựa vào báo cáo của IPCC 2021 làm nền tảng để chúng ta có được cơ hội tranh thủ cho một tương lai an toàn hơn.
Cũng như hầu hết các quốc gia đang phát triển, Việt Nam và ĐBSCL tuy có đôi phần thừa hưởng thành quả của cách mạng công nghệ lần thứ hai nhưng phải nói đúng hơn là một nạn nhân: từ một dân tộc từng trải qua thời kỳ trăm năm bị đô hộ, nay lại phải gồng gánh thêm những hậu quả mà phần lớn không do chính mình gây ra và hơn thế nữa mục tiêu của Thỏa ước Paris 2015 kiềm giử nhiệt độ của bầu khí quyển tăng không quá 1,5°C không giúp cho phát triển kinh tế của Việt Nam (đặc biệt là ở vùng duyên hải Trung phần và ở ĐBSCL) thoát khỏi những đe dọa của BĐKH.
Tuy vậy Việt Nam đã phác họa những phương án chống chọi những tác động tiêu cực của BĐKH. Hy vọng qua việc triển khai những dự án công nghệ mới như năng lượng Hydrogen Xanh, sản xuất methane sinh học từ sinh khối, đầu tư phát triển công nghệ thu gom và tồn trữ khí nhà kính phát thải và với sự hợp tác quý báu của các Tập đoàn quốc tế, Việt Nam cùng với thế giới sẽ đạt được mục tiêu net-zero phát thải vào khoảng 2050 hay trước hơn.
Hành trình của Con Tàu Định Mệnh Paris 2015 hẳn không suôn sẻ nhưng hy vọng sau cùng sẽ đến được bến bờ trông đợi.
Huỳnh Long Vân, Sydney 30/10/2021
