Menu

Vai trò của người trí thức trong lịch sử Việt Nam

Những điều trình bày sau đây chỉ là những điều suy nghĩ của một người Việt Nam, rất hãnh diện về dân tộc mình và tự thấy có bổn phận nhắc đến tinh thần bất khuất của những người yêu nước, xưa và nay, những người, trong nghịch cảnh, đã hiến dâng cuộc đời họ để mưu cầu tự do cho dân tộc. Xin kính cẩn giở những trang sử mà ông cha ta để lại. Kế đó, xin cùng nhau nhìn xem,trong hoàn cảnh hiện tại, đồng bào ta và chúng ta, đang viết tiếp như thế nào lịch sử của nước ta.

Từ xưa đến nay,trong truyền thống V.N., học vấn được coi là quan trọng nhất : « Học thời như gấm thêu hoa. Có văn có chất mới ra con người » .

Thời kỳ nho học, người học trò, với một số kiến thức nào đó do thẩy truyền lại, dưạ theo sách cổ điển, cố gắng thi đỗ đề ra làm quan; nếu không thi đỗ thì về nhà dậy học trò. Khi nước ta tiếp xúc với văn hóa Tây phương, cái thang giá trị vẫn rất ít thay đổi và người trí thức vẫn được một chỗ đứng cao trong xã hội. Bốn chữ : « Sĩ , Nông , Công , Thương » của khổng giáo vẫn còn tồn tại .

Tại sao kẻ sĩ được kính trọng như thế ? Một lý do là vì ngày xưa , người có học thi đỗ,ra làm quan, đóng vai trò « dân chi phụ mẫu ». Nếu không làm quan, kẻ sĩ, khi ngồi dậy học trò cũng được trọng hơn cha mẹ của học trò «Quân sư phụ». Đó là nói về thời bình, nhưng lúc nước nhà gặp nguy biến, người trí thức, trong lịch sử nước ta, luôn nhận vai trò lãnh đạo cứu nước.Xin được đưa ra vài thí dụ :

Trần Hưng Đạo và Nguyễn Trãi, vưà dũng cảm vưà kiên trì, đã đưa dân tộc ta thoát cảnh nô lệ phương Bắc. Trần Quốc Tuấn, ba lần đẩy lui quân Mông Cổ, đã nói : « Nếu Bệ Hạ muốn hàng thì xin chém. đầu thần trước đã ».Nguyễn Trãi,mười lăm năm đem tài trí giúp Lê Lợi dẹp giặc Minh, ngoài sự nghiệp hiển hách cứu nước, đã để lại cho dân tộc ta một cẩm nang quý báu « lấy trí nhân mà thay cường bạo, đem đại nghĩa để thắng hung tàn » ( Bình Ngô Đại Cáo )

Qua đến thời Pháp thuộc,số người cố gắng giải phóng đất nước rất nhiều, khó khăn và nguy hiểm họ trải qua thì gấp bội, nhưng chỉ vài người được biết tên, vì kẻ cai trị cố tình bưng bít và sử cận đại bị bóp méo bởi Cộng Sản Việt Nam. Khám lớn Sàigòn, Bà Rá, Côn Đảo, các đảo Phi Châu thuộc điạ của Pháp v.v. đã là nơi đầy đoạ và chôn vùi lớp lớp những trí thức chống thực dân Pháp.

Xin kể vài thí dụ để tỏ lòng biết ơn đối với các bậc tiền bối vì dân tộc chúng ta hi sinh cả cuộc đời.
Phan Đình Phùng ( 1846-1895 ), người tỉnh Hà Tĩnh, đậu tiến sĩ, ra làm quan thời vua Tự Đức, sau vì phản đối Tôn Thất Thuyết tại triều đình mà bị cách chức. Khi vua Hàm Nghi bị giặc Pháp trấn áp, Phan Đình Phùng khởi nghiã ở tỉnh Quảng Bình, suốt mười năm vào sinh ra tử ( 1885-1895 ), vưà chống giặc Pháp vừa cổ võ cho phong trào Cần Vương. Phan Đình Phùng đã ảnh hưởng đến các trí thức thời bấy giờ rất nhiều, trong số đó có Phan Bội Châu.

Phan Bội Châu ( 1867-1940 ) từng thi đỗ thủ khoa ở Nghệ An, nhưng không ra làm quan. Từ thuở vị thành niên đã tham gia phong trào Cần Vương, quyết nối chí Phan Đình Phùng chống lại sự đô hộ của Pháp. Ông đi khắp nơi từ Trung vô Nam, ra Bắc để vận động kết nạp người cùng chí hướng. Ông thấy cần sự giúp đỡ của nước ngoài để thực hiện giải pháp quân sự nên đã đi Trung Hoa và Nhật Bổn cầu viện. Chính trong khi tiếp xúc với quốc tế, Phan Bội Châu đã đổi quan niệm, thấy rằng cần phải có nền tảng vững chắc trong nước dựa trên dân trí cao và sự phát triển khoa học kỹ thuật, bắt theo kịp trào lưu thế giới. Phan Bội Châu dứt khoát dốc công gây ra phong trào sinh viên du học sau khi đã cùng thảo luận với Phan Châu Trinh (ở Nhật Bổn ).. Hai lá thư : « Khuyên thanh niên du học » và « Hải ngoại huyết thư» là khởi điểm của cuộc vận động. Kế đó trường Đông Kinh Nghiã Thục đã gây ảnh hưởng rất lớn. Phối hợp với « Phong trào duy tân » của Phan Châu Trinh. Phong trào nảy chẳng những nhắm vào việc đào tạo nhân tài cho đất nước mà còn khơi dậy lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm đối với quốc dân, đồng bào.

Khi Phan Bội Châu bị phản và bị Pháp kết án tử hình ( 1925 ), phong trào chống Pháp càng bộc phát, dẫn đến việc biểu tình đòi tha bổng Phan Bội Châu, rồi ngoài Bắc, Việt Nam Quốc Dân Đảng của Nguyễn Thái Học hoạt động mạnh (1927- 1930). Trong Nam, Nguyễn An Ninh ( 1899-1943 ) cùng với các ông Nguyễn Thế Truyền, Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Trường ( 1872-1933) đã công khai dùng báo chí đòi dân chủ,dân quyền cho Việt- Nam.

Phan Châu Trinh (1872-1926) cũng xuất thân là một nhà khoa bảng, làm quan cho nhà Nguyễn dưới triều vua Thành Thái. Nhưng Phan Châu Trinh chỉ làm quan vài năm rồi từ quan, đi chu du khắp nơi trong nước để cổ võ cho tư tưởng cách mạng của ông. Ông kêu gọi giới trẻ bỏ lối học hủ nho, khuyên dân theo tân học. Ông chỉ trích các quan lại thời đó chỉ cố bám vào công danh mà không nhìn thấy thực trạng của đất nước đang hồi bị đặt dưới ách thực dân. Vưà chống thực dân Pháp, vừa chỉ trích triều đình nhà Nguyễn, Phan Châu Trinh phải nhiều phen vào tù,nhưng vẫn hăng say tranh đấu ở trong nước rồi qua tận bên Pháp để vận động chính giới Pháp và cổ động sinh viên Việt Nam tại Pháp, gây phong trào đòi độc lập, đòi dân quyền cho Việt Nam. Phan Châu Trinh chủ trương việc nâng cao dân trí để có thể tự lực, tự cường trong việc đưa quốc gia đến phát triển vá tự chủ. Ảnh hưởng của Phan Châu Trinh sâu rộng đến nỗi cái chết của ông là một dịp để đồng bào toàn quốc nhắc đến tư tưởng ái quốc «cách mạng» của ông trong lễ truy điệu ông.

Nguyễn An Ninh (1899-1943) tốt nghiệp cử nhân luật khoa tại Pháp năm 20 tuổi, con của cụ Nguyễn An Khương là đại biểu của phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục tại miền Nam. Thạo Hán văn lúc còn nhỏ, lớn lên khi theo Tây học, nghiên cứu các triết lý thời bấy giờ, Nguyễn An Ninh đã không theo đuổi công danh mà đã để hết tâm trí vào việc tranh đấu chống thực dân, giải phóng đất nước, mở mang kiến thức cho đồng bào để đòi hỏi dân quyền. Năm lần vào tù để lần cuối cùng chết kiệt sức trên Côn Đảo nhưng ý chí và lòng yêu nước không bao giờ đổi thay.Nguyễn An Ninh đã cùng các bạn như Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Nguyễn Thế Truyền, Phan Văn Trường thành lập « hội kín Nguyễn An Ninh » và dùng báo ( La Cloche Fêlée, l’Annam …) và các buổi diễn thuyết để cổ động cho cuộc đấu tranh cởi ách nô lệ cho dân tộc Việt Nam .

Như chúng ta đã biết, lớp thanh niên thời bấy giờ nhờ ảnh hưởng của các nhà aí quốc mà chúng ta vưà nhắc đến, đã sẵn sàng tiếp tay với các bậc cha anh, đứng lên đòi quyền tự chủ cho nước nhà. Cũng đúng vào thời điểm ấy, sau đệ nhị thế chiến,khắp thế giới nổi lên phong trào đòi độc lập ngày càng mạnh mẽ và kết quả là đa số các thuộc điạ của những đế quốc Tây phương đều được trả lại chủ quyền.

Tiếc thay, Việt nam đã bị cộng sản đưa đi lạc hướng, trả giá quá đắt cho một nền độc lập mà các nước khác đạt được không hao tốn bao nhiêu. Lòng yêu nước nhiệt tâm của những người trí thức sẵn sàng đóng góp xây dựng cho quê hương đã bị lợi dụng. Đất nước bị rơi vào tình trạng bế tắc từ 1954 ở miền Bắc, và từ 1975 ở miền Nam, đến ngày nay vẫn còn sa lầy trong tình trạng suy thoái về mọi mặt : Xã hội, kinh tế, văn hóa .

Nạn cộng sản lập lại cho đất nước những tai họa mà trước kia nạn ngoại xâm đã gây ra : Đất nước bần cùng trong lúc giai cấp thống trị giầu sang tột độ, truyền thông và giáo dục bị lợi dụng để tuyên truyền cho chế độ độc tài thay vì để mở mang dân trí, tất cả những quyền căn bản của con người đều bị tước đoạt. Trước tình trạng này, một lần nữa chúng ta lại thấy ứng nghiệm lời nói của Nguyễn Trãi trong Bình Ngô Đại Cáo : « …như nước ta từ trước, dẫu cường nhược có lúc khác nhau, nhưng hào kiệt đời nào cũng có .»

Những hào kiệt của thời này là ai ?

Số người này hàng mấy trăm ngàn,bị kềm kẹp trong lao tù cộng sản, bởi hệ thống công an cực kỳ man rợ. Họ đã và đang đòi cộng sản trả tự do cho dân tộc Việt Nam. Biết bao người đã chết trong tù, trên đường tranh đấu, bất khuất trước bạo lực.Lòng dân vẫn kính phục và biết ơn những chiến sĩ vô danh đó, mặc dù con đường tranh đấu còn dài, công nghiệp của họ chưa được nhiều người ghi chép.

Tuy nhiên, Cộng Sản không bao giờ giết hết được những anh hùng dân tộc đã và đang dũng cảm tranh đấu đòi tự do dân chủ cho đồng bào trong nước. Dẫu viết ra một danh sách thật dài cũng sẽ còn thiếu sót, chỉ xin kể ra vài thí dụ. Những nhà ái quốc này có thể còn trong vòng kềm kẹp của cộng sản nơi quê nhà như Nguyễn Đan Quế, Hà Sĩ Phu, Lê quốc Quân, Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Đỗ Thị Minh Hạnh, Trần Huỳnh Duy Thức .

Hoặc đã từng bôn ba nơi hải ngoại, tận lực vận động cho Việt Nam đươc tự do, như giáo sư Nguyễn Ngọc Huy .

Hoặc, sau mấy chục năm bị giam cầm vì lên tiếng chỉ trích độc tài trong nước, đến khi lưu vong ở xứ người, vẫn tiếp tục vận động cho nhân quyền cho đồng bào trong nước, như thi sĩ Nguyễn Chí Thiện, giáo sư Đoàn Viết Hoạt.

Chúng tôi kính cẩn nghiêng mình trước những tấm gương bất khuất và hi- sinh vì dân tộc trên đây.
Điều đáng mừng là hiện nay, trong cuộc tranh đấu đòi dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam, có đủ mọi thành phần trong xã hội cùng tham gia, chứ không riêng gì trí thức : bên cạnh các luật sư, các nhà báo, các sinh viên, có các nông dân bị cướp đất, các công nhân bị bóc lột, « dân oan » bị đuổi nhà nơi thành thị, nơi cao nguyên,bị ô-nhiễm môi trường mất kế sinh nhai nơi bờ biển, các giáo dân của mọi tôn giáo bị đàn áp……

Khi toàn dân cùng một lòng đứng lên để bảo vệ cái gia sản chung của tổ -tiên để lại thì chúng ta có thể tin tưởng nơi một tương lai tươi sáng hơn cho quê hương Việt Nam, và người con dân Việt sẽ không hổ thẹn khi đọc bài thơ sau đây của chí sĩ Phan Bội Châu :

SỐNG

Sống tủi làm chi, đứng chật trời.
Sống nhìn thế giới, hổ chăng ai ?
Sống làm nô lệ cho người khiến,
Sống chịu ngu si để chúng cười,
Sống tưởng công danh không tưởng nước.
Sống lo phú quý chẳng lo đời,
Sống mà như thế, đừng nên sống
Sống tủi làm chi đứng chật trời !

Ngày 27 tháng 11 năm 2016

Lâm Thu Vân

Liên Kết Các Thế Hệ

X