Menu

Truyền thuyết Quốc Tổ Hùng Vương – Nguyễn Bá Hoa

  • Kính thưa Ông Chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia vùng Montréal – Canada
  • Kính thưa quí vị Trưởng thượng, quí quan khách, quí vị đại diện các Hội đoàn và tất cả quí vị hiện diên trong buổi lễ hôm nay.
  • Kính thưa Quí vị,

Cách nay 10 năm, tại Thánh đường Père Marquette, ngày 21-4-2002, tôi đuợc hân hạnh hầu chuyện cùng quí đồng hương về Ý nghĩa ngày Lễ Giỗ Quốc Tổ.

Thời gian qua mau, một lần nữa, rất hân hoan được sự ủy nhiệm của ông chủ tịch CĐNVQG, chúng tôi xin trình bày về Truyền thuyết Quốc Tổ Hùng Vương nhân ngày Giỗ Tổ hôm nay 29-4-2012.

Theo sách Hùng Vương Sự tích Ngọc Phả cổ truyền do Trung Tâm Học liệu – Bộ Giáo Dục VNCH xuất bản năm 1968. Đến nay là đầu thế kỷ 21, ta mở Ngọc Phả chép sự tích hơn 4 ngàn năm về trước, tay cầm bút lòng bâng khuâng, ăn trái nhớ người trồng cây, nhớ đến công lao của  Quốc Tổ Hùng Vương.

Với truyền thống

“Uống nước nhớ nguồn”
Vật đổi sao dời, phúc Tổ vẫn lưu nền cổ tích,
Nước nguồn, cây cội, đạo người nên nhớ Tổ Hùng Vương.

(Kính thưa quí Học giả, quí giáo sư, quí sử gia lão thành, những kiến thức chúng tôi sắp trình bày đây,chắc chắn có điều thiếu sót xin quí vị tha thứ cho).

Hy vọng ý kiến trình bày nầy giúp thêm một chút tài liệu cho những người Việt hải ngoại còn tha thiết tìm hiểu nguồn gốc của mình, để suy tư , hành động và ứng xử theo hoàn cảnh đặc biệt của người Việt chúng ta hiện nay và cũng với  hy vọng đóng góp được một phần rất nhỏ trong việc bảo tồn nền văn hoá nước nhà.

Kính thưa quí vị,

Có những nhà nghiên cứu lịch sử như sử gia Pháp Léonard Aurousseau (trong Origine de la race annmite, đăng trong tạp chí trường Viễn Đông Bác Cổ) dựa theo sử liệu của Tư Mã Thiên, một sử gia nổi tiếng củaTrung hoa, cho rằng nguồn gốc người Việt cổ là do người Tàu từ các nhóm ở phía bắc di cư lần về phương nam. Giả thuyết nầy ngày nay hoàn toàn không đứng vững.

Tìm hiểu các tài liệu về nhận chủng học, ngôn ngữ học, khảo cổ học… đã chứng tỏ người chủ tự nhiên và muôn thuở của đất nước Việt Nam là dân tộc Việt Nam gồm nhiều thành phần, có đa số, có dân tộc thiểu số, có người miền núi, người miền xuôi,… tuy trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội… có khác nhau, chủ yếu là do điều kiện địa lý, và hoàn cảnh lịch sử, nhưng từ ngàn xưa đã biết đoàn kết nhau, đồng cam cộng khổ xây dựng và giữ gìn quê cha đất tổ.

Từ buổi đầu thời đại đồ đồng thau, những bộ lạc tộc Việt đã định cư và bước vào thời kỳ nước Văn Lang, thời kỳ Hùng vương của lịch sử Việt Nam.

Nền văn hiến tuy mới chỉ phác hoạ những nét đại thể, song nhờ vậy đã hình thành một số phong tục tập quán có nề nếp lễ nghi.

I * Ý NGHĨA NGÀY GIỖ QUỐC TỔ

Từ ngàn xưa, trước khi tam giáo Nho, Lão, Phật thâm nhập vào nước Việt Nam, dân tộc ta đã có “Đạo Thờ Cúng Tổ Tiên”, tồn tại đến ngày nay và mãi mãi ngàn sau.

Người Việt chúng ta không những có lễ Gia tiên  tức là “Lễ Cúng Ông Bà” vào dịp Tết ta mỗi năm, mà lại còn có lễ Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương nhằm ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch, chung cho toàn thể đồng bào trong cũng như ngoài  nước.

Chúng ta thử dùng Dịch lý căn bản để phân tích đặc trưng ý nghĩa đa dạng của ngày Giỗ Tổ Hùng Vương. Theo Dịch lý thì số lẻ là dương, số chẵn là âm. Ở cấp căn bản, Dịch chỉ dùng các số từ 0 đến 10. Số 0 là chẵn, số 1 là lẻ. Vậy số 10 là hoàn toàn  nhất vì hội đủ cả hai yếu tố âm dương.

Số 10 tượng trưng cho âm dương  hoà đồng, theo tinh thần “Quân tử hoà nhi bất đồng, tiểu nhân đồng nhi bất hoà” (Luận ngữ) (Người quân tử đồng ý mà chẵng a-dua, kẻ tiểu nhân a-dua mà chẳng đồng ý). Thành thử ra 3 là lẻ, mà 10 là chẵn, ngày mùng 10 tháng 3 cũng hội đủ cả hai yếu tố âm dương. Hơn nữa, tháng 3 (Cung Thìn) là tháng Rồng, Rồng có thể sống trong bốn trạng thái vật lý của vật thể : thể rắn, thể lỏng, thể hơi và thể plasma (thể khí ở nhiệt độ vô cùng cao mà ta gọi là lửa rực), Rồng có liên hệ gốc gác Con Rồng Cháu Tiên. Theo tài liệu mới in năm 1993 thì vua Hùng Quốc Vương băng hà ngày 12-3 âm lịch. Các triều vua nhà Nguyễn qui định lễ dâng hương ngày mùng 10 tháng 3, còn ngày truyền thống  để các địa phương tổ chức Lễ Giỗ từ 11-3 đến 13-3 âm lịch.

Mỗi năm, vào ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch người Việt Nam chúng ta cử hành ngày Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương, người bình dân thường quen gọi là  Ngày Hội Đền Hùng. Ca dao có câu:

Ai về Phú Thọ cùng ta,
Nhớ ngày giỗ Tổ tháng ba  mùng mười

  • Vị trí Đền Hùng

Trước khi nhắc  đến và tìm hiểu truyền thuyết Quốc Tổ Hùng Vương, chúng tôi xin nói đến vị trí đền Hùng. Đền thờ Quốc Tổ Hùng Vương được xây dựng trên  Hùng Sơn còn gọi núi Hùng, núi Hy Cương, núi Nghĩa Lĩnh, núi Cả cao chừng 175 mét so với mặt nước biển, thuộc thôn Cổ Tích, xã Hy Cương, huyện Lâm Thao,tỉnh Phú Thọ (nay là Vĩnh Phú) cách Hà Nội hơn 60 km đường chim bay, nhưng đi đường bộ hay đường xe lửa là 90 km. Núi Nghĩa Lĩnh có đền thờ Quốc Tổ Hùng Vương nên người địa phương thường gọi là núi Đền.

Từ chân núi, có khoảng bốn trăm bực xây đưa lên đến đỉnh. Ở chân núi đường dốc thoai thoải đến cổng đền cao 8 mét (mới tu bổ lại năm 1917), bước lên 225 bậc thì đến đền Hạ cũng gọi là đền Giếng thờ hai bà công chúa Tiên Dung và Ngọc Dung, con của một vua Hùng.

Bước thêm 168 bậc nữa là đến đền Trung, trước đền Trung ở lưng chừng núi, có một tấm bia lớn nét chữ còn rõ, nhắc lại lịch sử của các đời vua Hùng. Trong rừng núi nơi đây có một loài chim mà tiếng kêu phát lên những cung bậc lạ lùng  khắc khoải khác thường, gợi ta nhớ biết bao những anh hùng ngàn thu trước, nhớ đến bao lần hưng  thịnh của dân tộc  ta.

Trong thời khởi nghĩa chống đô hộ Pháp, người anh hùng dân tộc Nguyễn Thái Học và Nguyễn Thị Giang cũng đã leo những bực đá nầy để lên đền, trước bàn thờ Tổ “Nguyện thề đồng sinh đồng tử”.

Trèo thêm 102 bậc nữa lên đỉnh núi là đến đền Thượng, thờ mười tám Đức Hùng Vương, phía trước có bức hoành phi lớn có khắc 4 chữ, tôi nhớ mài mại là “ Việt Nam Triệu Tổ” nét chữ hùng kính. Nơi đây có một đôi câu đối do đoàn sinh viên trường Đại Học Hà Nội cúng vào đền Tổ (theo học giả Nguyễn Hiến Lê):

Con cháu ba kỳ thăm mộ Tổ  
Non sông muôn thuở rạng nòi Tiên.

Việc lập đền thờ Đức Hùng Vương đã có từ xa xưa qua các triều đại đều chuẩn y, nhất nhất theo lệ cũ, phụng sự Quốc Tổ bền lâu. Ngày nay, nơi chánh Điện Đền Hùng có treo bức hoành phi: “Vi Bách-Việt tổ” (là tổ của Bách Việt)

         Ba toà chót vót đầu non,
         Ngàn năm sùng bái vẫn còn khói hương . 

ll- TRUYỀN THUYẾT QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG

Theo sự tích cổ truyền, thì vị trí nước Việt Nam ta, lúc ban đầu có cả một dư đồ rộng lớn ở phía nam núi Ngũ Lĩnh về mạn đông nam nước Trung hoa bây giờ.

         THỜI ĐẠI HỒNG BÀNG (2879 -258 trTL)
         Vua Thần Nông vốn giòng Lạc Việt
         Cháu Đế Minh, nối nghiệp vua ban (2879 trTL)
         Rừng xanh, Ngũ Lỉnh chiêm quan
         Phương Nam chọn đất, cưới nàng Vụ Tiên

Theo sách sử xưa, cháu 3 đời vua Viêm Đế của họ Thần Nông là vua Đế Minh, sau vua Đế Minh đi tuần thú phương Nam đến núi Ngũ Lĩnh (tỉnh Vân Nam, quận Giao Chỉ) gặp bà Vụ Tiên rước về làm hoàng hậu sanh ra Lộc Tục.

Vua Đế Minh phong Đế Nghi làm vua phương Bắc và Lộc Tục làm vua phương Nam với đế hiệu là Kinh Dương Vương đặt quốc hiệu là Xích Quỷ. Sử xưa ghi việc lên ngôi nầy vào năm 2879 trước tây lịch (trTL), sử gia Ngô Sỹ Liên (thời vua Lê Thánh Tông) ghi năm đó là năm Kinh Dương Vương lập quốc.

Tính đến năm 2012 nầy là 4.891 năm.

Vào tiết Xuân mát mẻ, cảnh sắc sáng tươi, vua tuần du ngoài biển, không ngờ gió thổi thuyền thẳng tới hồ Động Đình, chợt thấy một người con gái nhan sắc tuyệt vời, đó là Long Nữ, con gái của Long Vương. Vua Kinh Dương Vương cho rước về đô thành lập làm chánh cung.

Một ngày kia, điềm lành hiển hiện ra hào quang sáng chói, bà Thần Long sinh ra  Sùng Lãm. Sùng Lãm có tư chất thông minh hơn người, được vua lập làm Thái tử.

Sùng Lãm là con bà Thần Long, dòng cháu bà Vụ Tiên nên gọi là “Con Rồng cháu Tiên”. Do đó, có sự tích Con Rồng cháu Tiên.

  • Lạc Long Quân

Sau khi Kinh Dương Vương mất, Sùng Lãm lên nối ngôi lấy hiệu là Lạc Long Quân, cưới bà Âu Cơ.

Ngày bà sắp sinh, thì trên núi Ngũ Lĩnh hiện ra điềm lành, mây ngũ sắc rực rỡ, rồi bà hạ sinh một bọc trăm trứng, nở ra trăm người con trai, lớn lên đều có tư chất thông minh hơn người.

Trong thế gian, sắc đẹp nào hơn Tiên, sức mạnh nào hơn Rồng cùng với lực lượng trăm vị trượng phu khôi ngô tuấn tú có giác quan tinh nhuệ, trí tuệ thông minh khi trưởng thành, thật là một tập hợp sắc, tài, nhân lực vô song  cơ may ngàn năm một thuở (thiên tải nhất thì),  thiên duyên trời đà dành sẵn cơ đồ nước Việt. Vào một ngày trời quang mây tạnh (thiên quang vân tĩnh) năm mươi người con theo cha xuống miền biển đông để mở rộng bờ cõi , năm mươi người con theo mẹ Âu Cơ lên miền núi trấn an biên thuỳ.

Một bầu  chia xẻ tuy đôi ngả
Trăm họ chung quy vẫn một nhà.

 Phải chăng hàng ngàn năm trước, Tổ tiên ta đã vì lợi ích dân tộc mà hy sinh tình cảm riêng tư ?

“Phép công là trọng niềm tây sá gì ?”

Truyền thống nầy càng biểu hiện cụ thể hơn trong cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (40 – 43 sau Tây lịch). Trưng Trắc và Trưng Nhị là hai chị em ruột, con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh (Sơn Tây cũ và thuộc tỉnh Vĩnh Phú ngày nay) thuộc dòng dõi Hùng Vương. Theo thần tích và truyền thuyết ở Sơn Tây, mẹ của hai Bà Trưng là bà Man Thiện  –  là cháu chắt bên ngoại Hùng Vương . Bà đã nuôi  dạy hai người con gái theo tinh thần yêu nước và thượng võ. Bà giúp đở con gái và con rể rất tích cực trong việc tổ chức lực lượng khởi nghĩa bao gồm nhiều thủ lĩnh (quang lang, phụ đạo) và dân binh địa phương vùng Sơn Tây cũ. Hiện nay ở làng Nam Nguyễn huyện Ba Vì còn ngôi mộ của Bà, Dân địa phương gọi là mả Dạ. (Dạ là tiếng Việt cổ chỉ một bà già được kính trọng).

Trưng Trắc là một người phụ nữ dũng cảm, đảm đang, mưu trí; chồng bà là ông Thi Sách, con trai lạc tướng huyện Chu Diên (miền Hà Tây – Nam Hà) cũng là một người yêu nước và có chí khí quật cường. Hai gia đình Lạc tướng, với sự ủng hộ của nhân dân, đang cùng nhau mưu toan sự nghiệp lớn thì Thi Sách bị viên thái thú Tô Định giết chết. Hành vi bạo ngược của Tô Định không làm cho bà Trưng Trắc sờn long, trái lại càng làm cho Bà thêm quyết tâm tiến hành cuộc khởi nghĩa, chiêu anh hùng nghĩa sĩ bốn phương đuổi quân giặc ra khỏi biên cương khôi phục nền độc lập cho Tổ quốc.

Bà Trưng đã đặt nợ nước trên thù nhà. Theo truyền thuyết dân gian, Bà bỏ khăn tang khi ra trận để khỏi xúc động ba quân… Trên đàn thề trước ba quân Bà Trưng đã nêu rõ  bốn mục tiêu của cuộc khởi nghĩa.Thiên nam ngữ lục, áng sử ca dân gian cuối thế kỷ XVll đã ghi lại như sau :

“ Một xin rửa sạch nước thù,
Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng,
Ba kẻo oan ức lòng chồng,
Bốn xin vẹn vẹn sở công linh nầy”.   ( Lịch sử Việt Nam – tập l – 1971)

Khi đem quân đi diệt thù cứu nước, thì:

“ Chị em nặng một lời nguyền,
Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân.
Ngàn tây nổỉ án phong trần,
Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên.
Hồng quần nhẹ bước chinh yên,
Đuổi ngay Tô Định dẹp yên Biên thành”.

Và khi đuổi được giặc ra khỏi biên cương, thắng trận vẻ vang trên đường  trở về Kinh đô, Bà Trưng mới vấn chiếc khăn tang lên đầu mà nghĩ đến tình nhà, tình cảm riêng tư, tâm sự  vành khan tang, nỗi niềm cô đơn và hiu quạnh miên man của người quả phụ:

“Ải Bắc quân thù kinh vó ngựa,
Giáp vàng khăn trở lạnh đầu voi,
Chàng ơi, điện ngọc bơ vơ quá,
Chênh chếch trăng tà bóng lẻ soi ”  .  (Ngân Giang nữ sĩ )

(Xin mở dấu ngoặc, phần nầy có nơi ghi: Lạc Long Quân bàn với bà Âu Cơ: “Ta là dòng dõi rồng, ngươi là dòng dõi tiên, ăn ở với nhau lâu không được. Nay chúng ta được một trăm người con, vậy ngươi đem năm mươi con lên núi, còn ta đem năm mươi con ra biển lập nghiệp).

Lạc Long Quân phong người con trưởng lên nối ngôi hiệu là Hùng Vương, đặt quốc hiệu là Văn Lang, đóng đô tại Phong Châu, nay thuộc vùng đất Bạch Hạt (1) – Việt Trì, là một thung lũng nằm giữa hai quả nuí  lớn là Tản Viên ở phía tây bắc và Tam đảo ở phía đông bắc, đồng thời cũng là lưu vực của 3 con sông lớn vùng trung du Bắc Việt là sông Thao ( thượng lưu sông Hồng), sông Đà (sông Đáy) và sông Lô. Do đó có danh xưng là Ngã ba Hạc, nổi tiếng với bài phú “Ngã ba Hạc” của tiến sĩ Nguyễn Bá Lân (1701-1785). (2)

Đất Phong Châu khí vượng kinh đô
Văn Lang lập quốc bấy giờ
Hùng Vương xưng đế, cõi bờ tuần tra.

Mười tám đời vua liên tiếp đều lấy hiệu là Hùng Vương, kể từ Kinh Dương Vương đến Lạc Long Quân… Hùng Quốc Vương, Hùng Nghi Vương… Hùng Duệ Vương.

Cõi Nam riêng một góc trời,
Hùng Vương gây dựng đời đời nghiệp vua
Phong Châu là chốn Kinh đô,
Chia làm mười lăm bộ  bản đồ mênh mông.

(Sơn Tây, Sơn Nam, Hải Dương, Kinh Bắc, Ái Châu, Hoan Châu, Bố Chính, Ô Châu, Ai Lao, Hưng Hoá,Tuyên Quang, Cao Bình, Lạng Sơn, Quảng Tây và Quảng Đông — theo sách Hùng Vương Sự Tích Ngọc Phả cổ truyền)

Tuy nhiên, về niên đại còn nghi vấn, vì từ năm 2879 trước TL đến năm 258 trước TL, là năm An Dương Vương Thục Phán chiếm nước Văn Lang lập ra nước Âu Lạc. Thời gian nầy tính ra là 2621 năm mà chỉ có 20 đời vua – ( Vua  Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân  và 18 (hay là 81 ?) vị Hùng Vương, vấn đề còn nghi vấn (có nói đến ở đoạn sau).

lll- SỰ XUẤT HIỆN TRUYỀN THUYẾT HÙNG VƯƠNG

A- Về lịch sử

Việc nghiên cứu thời đại các vua Hùng đã có một số kết quả bước đầu. Còn nhiều câu hỏi đặt ra vẫn chưa trả lời được dứt khoát.

Theo sách sử xưa, từ thế kỷ 13, sách Đại Việt sử ký của sử gia Lê văn Hưu là bộ quốc sử đầu tiên của nước ta, được viết xong năm 1272 không có ghi thuyết Hùng Vương.

Nhưng sau đó, thời nhà Trần, có hai bộ sử : An Nam chí lược của Lê Tắc (soạn xong vào năm 1333) vàViệt sử lược (xuất hiện khoảng 1377, không ghi tên tác giả) bắt đầu đề cập sơ lược chuyện Hùng Vương.

Người ta biết chắc chắn truyền thuyết Hùng Vương đã được sử gia Ngô Sĩ Liên đưa vào chính sử trong Đại Việt sử ký toàn thư, soạn xong năm 1479 dưới triều vua Lê Thánh Tông  (1460-1497).

Trong thời gian từ Đại Việt sử ký của Lê văn Hưu đến Đại Việt sử ký toàn thư  của Ngô Sĩ Liên, có xuầt hiện hai bộ sách quan trọng:

a/ Việt điện u linh tập, sách gồm những chuyện u-linh, hoang đường ở thời Việt cổ, do Lý Tế Xuyên soạn xong năm 1329 dưới triều vua Trần Hiển Tông (1329-1341)

b/ Bộ Lĩnh Nam chích quái, có thể do Trần Thế Pháp soạn vào đầu thế kỷ 15. Sách nầy gồm những chuyện thần tiên cổ tích về đời Hồng Bàng (chuyện Kim Quy, tíchTrầu cau, Phù Đổng Thiên vương, Thần Tản Viên, v. v…)

B- Về Tâm linh

Thời xa xưa, người ta còn tin tưởng, thờ cúng những sức mạnh thiên nhiên như thần sấm, thần sét, thần núi, thần sông… Việc thờ thần mặt trời là một hiện tưởng phổ biến của những cư dân nông nghiệp thời đại đồ đồng. Sự sùng bái tự nhiên chiếm vị trí quan trọng. Trong thời phong kiến, các triều vua thiết lập đàn Nam Giao, mỗi năm vua cùng các quan trong triều làm lễ tế Nam Giao cầu cho mưa thuận gió hoà (Phong điều võ thuận) . Khi bị hạn hán, vua, quan, dân chúng lập  đàng cầu đảo xin cho trời mưa.

Ngày nay người Việt chúng ta còn giữ Lễ thờ cúng Tổ tiên, mỗi năm thường có lễ Giỗ, ngày Xuân, ngày Tết ta có lễ rước Ông bà  vào ngày cuối năm cũ và đầu năm mới âm lịch.

Như trên đã ghi, căn cứ vào sách sử, vào thế kỷ 14 – 15 đã thấy xuất hiện truyền thuyết Hùng Vương.

Như vậy, truyền thuyết Hùng Vương, dầu có tính cách thần thoại, từ khi được ghi vào chính sử trong Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên năm 1479 dưới triều đại vua Lê Thánh Tông, đã có tác động mạnh vào tâm lý người Việt Nam, trở thành niềm tin, niềm tự hào về ngày Giỗ Tổ của dân tộc trái với tư tưởng duy vật vô thần của C.S. ngày nay.

Nhìn lịch sử thế giới, chỉ có nước Việt Nam chúng ta là nước duy nhất có ngày Giỗ Quốc Tổ cho cả dân tộc.

Trong lịch sử nước ta, truyền thuyết (huyền thọai) Quốc Tổ Hùng Vương là mẫu số chung cho tất cả dân tộc Việt, thể hiện bản sắc và truyền thống người Việt. Tinh thần đoàn kết dân tộc, sống với tình thương hài hoà giữa mọi sắc tộc dù có sự khác biệt về tập quán, tín ngưỡng, hệ thống gia đình mẫu hệ (matriliny) hay phụ hệ (patriliny) nhưng luôn luôn giữ vững ý chí bất khuất, cương quyết chống ngoại xâm bảo vệ độc lập Tổ quốc, toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải.

Hai ngàn năm lẻ, dân an lạc
Mười tám đời vua , nước thái hoà.

Tuy nhiên, truyền thuyết Quốc Tổ Hùng Vương cũng còn những nghi vấn.

C- Những nghi vấn

Từ thế kỷ 18, có vài sử gia tỏ ý hoài nghi về truyền thuyết nầy:

– Ngô Thời Sỹ (1726-1780) đã nhận xét rằng :”Lấy con toán mà kể xem từ đời Kinh Dương Vương (đời Hùng Vương), 20 đời vua , thời gian là 2622 năm, nhiều ít trừ bù lại, mỗi vua 120 tuổi. Người ta không phải vàng đá, sao sống lâu được như thế”.

– Lê Quý Đôn (1726-1784), trong sách Vân Đài loại ngữ cũng tỏ ý hoài nghi  các địa danh về 15 bộ đặt ra thời đó.

– Vào đầu thế kỷ 20, sử gia Trần Trọng Kim nhận xét về thuyết Hùng Vương có ghi “không chắc là chuyện xác thực” (Việt Nam Sử Lược).

– Khi phiên dịch bộ Đại Việt Sử ký toàn thư, tác giả Nhượng Tống (Mạc Bảo Thần Nhượng Tống tên thật là Hoàng Phạm Trân) đưa ra lời bàn: “Nói cách khác, trong các sử cũ của ta không hề có chép chuyện họ Hồng Bàng cùng vua Thục. Hai chuyện đó là tự Ngô Sĩ Liên chắp nối …mà chế tạo nên”.

D- Tổ chức  Xã hội thời  Hùng Vương,  nước  Văn Lang

Thuở bấy giờ nước Văn Lang xuất hiện với một tổ chức chánh trị xã hội tương đối phát triển.

Theo sử xưa và truyền thuyết, bấy giờ có 15 bộ lạc Lạc Việt: từ Sơn Tây, Quảng Đông, Quảng Tây (đã ghi ở trên).

Trong các bộ lạc, có bộ lạc Văn Lang là hùng mạnh hơn cả.

Nước Văn Lang, nhìn ra Đông Hải 
Động Đình Hồ ở mãi Bắc phương 
Bờ Tây: Ba Thục chắn đường 
Phía Nam giáp nước Hồ Tôn  Chiêm Thành.
. . . 
Người Bách Việt  chen vai sát cánh
Sống quay quần bên nhánh sông Lô
Đất, rừng trù phú trời cho
Dân chuyên nông nghiệp, rành đồ gốm nung
Nền văn hoá Đông Sơn rực rỡ
Chế Trống Đồng dùng khắp nơi nơi.

Người đứng đầu bộ lạc Văn Lang đã đóng vai trò lịch sử là người đứng lên thống nhất tất cả các bộ lạc Lạc Việt, dựng lên nước Văn Lang, lên ngôi sử gọi là Hùng Vương và con cháu nối ngôi đời đời vẫn mang danh hiệu đó.

Thành phần dân cư sống trên lãnh thổ đó là người Việt cổ, nói một thứ tiếng Việt cổ, mà trải qua bao nhiêu chặn đường biến hoá ngữ âm, ngữ pháp đã trở thành tiếng Viêt ngày nay. Trong cuộc sinh sống họ biết đoàn kết, tương thân tương ái trong công việc làm ăn và việc giữ làng giữ nước.

Người Việt làm nghề nông: cấy lúa, trồng khoai và các loại ngũ cốc. Tiếng chài giã gạo đã trở thành điệu nhạc quen thuộc  trong nông thôn nước ta. Họ biết lợi dụng thuỷ triều lên xuống của sông ngòi để phục vụ nông nghiệp. Tằm là loài sâu nhiệt đới mà tổ tiên ta nuôi để ươm tơ dệt vải, dệt lụa. Câu chuyện Sơn Tinh chiến thắng Thuỷ Tinh là thiên hùng ca đậm đà màu sắc thần thoại ca ngợi người dân Lạc Việt đã thắng những cơn ngập lụt giành lấy những cánh đồng phù sa màu mỡ ven sông.

Thủ công nghiệp: Trống đồng, đồ đồng Đông Sơn (Thanh Hoá) được chạm trổ khéo léo. Những đặc trưng chủ yếu văn hoá Đông Sơn có tính phổ biến mọi miền trong nước Văn Lang. Từ Việt Nam, trống đồng được truyền lên phía Bắc tới đất Điền (Vân Nam), đất Thục (Tứ Xuyên) v.v…  Cảnh múa hát vũ trang, hoá trang theo nhịp trống trầm hùng, hoà với tiếng khèn tình tứ, cảnh đua thuyền sôi nổi trên sông nuớc… đuợc khắc chạm trên nhiều trống đồng và đồ đồng Đông Sơn.)

Nước Văn Lang ở vào vị trí tiếp xúc giữa đất liền và hải đảo, ở ngã tư những con đường giao thông thuỷ bộ quan trọng từ bắc xuống nam, từ đông sang tây… Nhu cầu chống ngoại xâm đã trở thành một nhân tố quan trọng thúc đẩy sự lớn mạnh nhanh chóng của xã hội Văn Lang, vốn đã có một cuộc sống  và một tổ chức xã hội bước đấu đi vào nề nếp nhưng dễ bị đe doạ vì vị trí địa lý quan trọng của đất nước mình. Dân tộc Việt Nam dưới thời Hùng Vương vừa mới cố sức vươn mình lên khỏi cuộc sống tự nhiên đầy khó khăn gian khổ giữa rừng rậm, đầm lầy, thú dữ, dông bão, lụt lội… thì phải đương đầu những kẻ thù xâm lược. Bọn xâm lược mang nhiều truyền thuyết: giặc Man, giặc Ân …

Câu chuyện Thánh Dóng (Phù Đổng Thiên Vương) đại phá giặc Ân xảy ra đời Hùng Vương thứ 6, là thiên thần thoại rất đẹp ca ngợi tinh thần chiến đấu chống ngoại xâm của dân tộc Việt thời cổ.

Ngựa sắt lên mây còn truyện lạ,
Tương truyền ông tướng mới lên ba.

Sử kiện nầy là giữa đời Nhà Thương tức là thế kỷ 14 trước Tây lịch, (căn cứ vào sử liệu cũng như các ngọc phả mà bản hiện tồn cổ nhất được viết vào năm Thiên Phúc nguyên niên dưới thời vua Lê Đại Hành (980)).

Chúng tôi xin mở dấu ngoặc để nói một chút về giặc Ân: Khoảng thế kỷ 14 (trTL), vua nhà Thương là Bàn Canh dời đô đến đất Ân (thuộc tỉnh Hà Nam bây giờ). Do đó về sau, nhà Thương cũng còn gọi là nhà Ân. (từ vị vua đầu của nhà Thương là Thành Thang đến Bàn Canh, trong vòng ba trăm năm, vua cuối cùng của nhà Ân –Thương là Trụ vương, một bạo chúa tàn ác nổi tiếng.) Họ đi đánh các bộ tộc khác để cướp ngọc ngà châu báu, để bắt tù binh, bắt người làm nô lệ. Nhưng giặc Ân đã thất bại khi xâm lăng đến nước Văn Lang.

Khi đánh tan giặc Ân rồi, Thánh Dóng đi thẳng đến núi Sóc Sơn ở xã Vệ Lĩnh huyện Kim Hoa, trút áo giáp để lại, cưỡi ngựa bay thẳng lên mây. Nay còn lốt chân ngựa trên núi nầy. Đánh tan giặc :

         Xong quay về đến đất Sóc Sơn
         Áo nhung bỏ lại bên đường
         Dấu chân Phù Đổng Thiên Vương nay còn.

Vua Hùng Huy Vương nghĩ đến công lớn đã giúp nước, nên tôn lên làm Phù Đổng Thiên Vương cho lập đền thờ ở làng Phù Đổng, huyện Tiên Du và ở thôn Đối Mã, xã Vệ Linh, huyện Kim Hoa .

IV- KẾT LUẬN

Nhìn tổng quát, truyền thuyết Hùng Vương hoặc huyền thoại Con Rồng Cháu Tiên dầu có tính cách thần thoại, nhưng từ  khi sử gia Ngô Sĩ Liên đưa vào bộ chính sử  Đại Việt Sử Ký Toàn thư vào thế kỷ 15, đã có tác động mạnh đến tâm lý đại chúng  trở thành niềm tin và niềm tự hào  dân tộc  trong việc bảo vệ Tổ quốc được bền vững cho đến ngày nay. Nếu người Nhật Bản tự hào là con cháu của Thái Dương Thần Nữ, người Trung Hoa thấy danh dự có được ông Bành Tổ thì người Việt Nam cũng tự hào có huyết thống Con Rồng Cháu Tiên. Với nguồn gốc Tiên Rồng ngàn ánh vinh quang rạng chiếu sơn hà ngàn xưa. Nòi giống Lạc Hồng, nòi giống hiên ngang, hình ảnh huy hoàng, của dân tộc Việt Nam. Dựa vào  hình ảnh thiêng liêng đó mà chúng ta phải vươn lên làm sao cho xứng đáng với cội nguồn tổ tiên đã để lại.

Việc lập đền thờ Đức Hùng Vương đã có từ xa xưa qua các triều đại đều chuẩn y, nhất nhất theo lệ cũ, phụng tự Quốc Tổ bền lâu :

Chính trong thời kỳ nầy đã xây dựng nền tảng dân tộc Việt, nền tảng văn hoá Việt Nam và truyền thống tinh thần dựng nước, giữ nước, người Việt hiếu hoà, nhân ái, trang nhã, khoan dung (tinh thần Mẹ Tiên) nhưng khi quốc gia hữu sự thì hiên ngang, dũng mãnh, bất khuất cương quyết chống giặc xâm lăng, càng gian truân càng nung chí lớn bởi hiểu rằng trời muốn thử ta để trao nhiệm vụ, nên càng cố chí vượt gian nan, lấy đại nghĩa để thắng hung tàn, đem chí nhân để thay cường bạo (tinh thần Cha Rồng) như bậc  anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi  đã ghi trong Bình Ngô Đại Cáo :

“Trải Triệu, Đinh, Lý Trần nối đời dựng nước,
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên  đều chủ một phương
Tuy mạnh yếu có lúc khác  nhau
Mà hào kiệt không bao  giờ  thiếu” .
. . . 
Quân tử cầu chư kỷ,
Ta phải dựa vào sức mạnh của chính dân tộc ta.
Đất nước ta phải hùng  cường,

“Để mở nền  muôn thuở  thái  bình
Để  rửa nỗi  nghìn  thu  hổ  thẹn”.

Hoàng đế Quang Trung, trong lời dụ tướng  sĩ đã  nói lên tinh thần bất khuất quyết tâm đánh tan giặc Thanh xâm lược để bảo tồn  nền độc  lập dân tộc:

. . .  “Đánh cho  sử tri  Nam Quốc anh hùng  chi hữu  chũ ”.

Đó là truyền thống quật cường bất khuất và tinh thần nhân đạo của dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ độc lập Tổ quốc.

Kính thưa quí vị,

Trước bàn hương án tôn nghiêm,  trước lá Quốc Kỳ nền vàng ba sọc đỏ chúng ta thành kính xin Quốc Tổ Hùng Vương, anh linh các vị anh  hùng liệt sĩ phù hộ cho nước Việt Nam sớm được tự do, dân chủ, hưng thịnh, đoàn kết và luôn được toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải.

Xin cảm ơn tất cả quí vị hiện diện trong buổi lễ hôm nay
Xin cám ơn ông Chủ tịch Cộng Người Việt Quốc Gia, Canada, vùng Montréal.
Trân trọng kính chào quí vị  .-/-

 * * NGUYỄN BÁ HOA

GHI CHÚ :

(1) Quyển Dư Địa Chí là quyển sách địa lý đầu tiên của nước ta, do Nguyễn Trãi viết, Nguyễn Thiên Tích làm
“cấn án” và Nguyễn Thiên Túng làm chú giải, đã giải thích địa danh Bạch Hạc như vậy.

(2) Ngã ba Hạc phú :

Vui thay! Ngã ba Hạc; Vui thay! Ngã ba Hạc.
Dưới họp một dòng, trên chia ba ngác.
Ngóc ngách khôn đo rộng hẹp, lần biếc lẫn dòng đào ;
Lênh lang dễ biết nộng sâu, nước đen pha nước bạc…”       

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

X