Menu

Bài 4: A, An hay The ? (tiếp theo)

header_bai_giang_4

Bài 4:

A, An hay The ?

(tiếp theo)

 

Trước đây chúng tôi có viết là các mạo từ bất định a, an thường phải có mặt trước một danh từ số ít.  Nhưng ở Bài 3 trong trích đoạn từ cuốn sách The Audacity of Hope của Tổng thống Mỹ B. Obama lại có vài danh từ số ít—office, law school, life, literature, mà không thấy có mấy mạo từ này phía trước.  Chẳng lẽ Ngài tổng thống nhà ta lại sai khi hạ bút viết như thế?

Tất nhiên là không thể có chuyện này, bởi vì ngay cả khi ông tổng thống, hay một tác giả nổi tiếng nào khác đi nữa, có sai sót về văn phạm hay chính tả chẳng hạn, thì trước khi đưa in bản văn, đám biên tập (editors) và các thầy cò (proofreaders) chuyên nghiệp đã sửa chữa những lỗi như thế.  Lắm khi nó còn phải qua nhiều cặp mắt tìm lỗi khác trước khi chuyển sang nhà in.  Và ngay cả khi bản văn đã chuyển sang nhà in, người ta cũng in thử một vài bản, rồi các proofreaders khác lại rà lại lần cuối trước khi in thật để tung ra thị trường.  Chính vì lý do này mà sách vở báo chí Anh Mỹ hiếm khi nào có lỗi chính tả văn phạm.  Những lỗi nhỏ nhặt thuộc phạm vi xếp chữ, đánh máy hay in ấn Anh gọi là typo, số nhiều typos.

Như vậy, câu hỏi đặt ra ở đây là khi nào thì có a, an và khi nào thì không, trước danh từ số ít?  Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần phải hiểu hai khái niệm liên hệ đến danh từ trong Anh ngữ.  Đó là danh từ đếm được (count noun, hay countable noun) và danh từ không đếm được (uncountable noun, hay mass noun).

Thế nào là đếm đượckhông đếm đượcĐếm là một trong 4 động từ chúng ta thường nghe sau 1975 do đám vixi dùng để định số lượng người, vật, chất—cân, đong, đo, đếm.  Nói khác đi, danh từ nào mà chúng ta có thể để một con số phía trước, ví dụ như một cái bàn (table), hai cuốn sách (book),…, thì hai danh từ table, book gọi là loại danh từ đếm được.

Ngược lại, khi chúng ta không thể nói một sữa (milk), hai bông gòn (kapok) thì hai danh từ milkkapok thuộc loại danh từ không đếm được, bởi vì chúng ta thường nói một ly sữa, một lít sữa, một ngụm sữa, hoặc một ký bông gòn, hai gói bông gòn, tức là phải có một đồ đựng, trọng lượng hay thể tích cụ thể nào đó đứng trước, ví dụ ở đây là ly, lít, ngụm, , gói.

Sự phân biệt này chỉ rành rẽ dễ hiểu khi chúng ta gặp những danh từ cụ thể, chỉ vật chất có thể trông thấy sờ mó được, như mấy ví dụ trên.  Nhưng khi chúng ta đối diện với những danh từ chỉ khái niệm rất trừu tượng, khó có thể hình dung, ví dụ như thông minh (intelligence), nhẫn nại (patience), v.v., thì sự phân biệt đó không còn rõ ràng nữa.  Và nhiều khi một danh từ nào đó có thể vừa là đếm được vừa là không đếm được tùy trường hợp; nó có thể nó mang ý nghĩa khác nhau khi có hay không có a/an đứng trước.

Tuy vậy, chúng ta chẳng phải lo lắng thái quá khi phân vân không biết một danh từ tiếng Anh nào đó thuộc loại nào, bởi vì sự phân loại này có ghi sẵn trong tự điển Anh-Anh, chẳng hạn như cuốn Oxford Advanced Learner’s Dictionary, do nhà xuất bản của Đại Học Oxford bên Anh ấn hành.  Ngoài ra, khi chúng ta ngày càng tiến bộ trong việc học tập thông qua đọc, nghe, nói nhiều tiếng Anh hơn, chúng ta sẽ nhận dạng hay phân biệt loại danh từ nào một cách dễ dàng và tự nhiên hơn.

Bây giờ chúng ta trở lại với mấy danh từ số ít trong bài trích từ cuốn sách của tác giả B. Obama: office, law school, lifeliterature, và xét từng danh từ một.  Office là danh từ thuộc cả hai loại, đếm đượckhông đếm được.  Trong tự điển vừa nêu trên chẳng hạn, hai khái niệm này được ghi ngay sau danh từ như sau: office [C/U] (C=countable) và U=uncountable). Ở nghĩa đếm được (có mạo từ đứng trước) danh từ này chỉ căn phòng nơi đó có nhân viên làm việc; và khi viết hoa Office thì chỉ Nha, Sở, Bộ hay Cơ quan quan trọng của chính phủ hay công ty, ví dụ The Office of the Treasury.  Khi dùng với nghĩa không đếm được, tức là không có mạo từ đứng trước, danh từ này có nghĩa là chức vụ, thường là chức vụ quan trong trong một tổ chức tư nhân, cơ quan chính qưyền, v.v.

Có mấy thành ngữ có office rất phổ thông như trong mấy ví dụ sau đây:

Bob plans to run for office next year. (Chàng Bob có ý định ra tranh cử năm tới.)

The President takes office two months after the election. (Tổng Thống sẽ nhậm chức 2 tháng sau ngày bầu cử.)

I have no desire to seek public office. (Tôi chẳng có có ý muốn nào vào làm công chức cả.)

– She held office as governor for eight years. (Bả giữ chức vụ thống đốc trong 8 năm.)

– How long has he been in office? (Ổng giữ chức vụ ấy được bao lâu?)

– The former senator has been out of office for many years. (Vị cựu nghị sĩ đã rời chức vụ lâu rồi.)

Tương tự như office, school cũng là một danh từ thuộc cả hai loại, đếm và không đếm được.  Trường hợp đếm được, nó có nghĩa là ngôi trường, nơi học sinh, sinh viên đi học; nhưng khi dùng với ý nghĩa không đếm được, nó hàm ý sự học hành, sự được ăn học.  Một số thành ngữ thông thường có schoolin/at school; go to school; start/quit school; before/after school.

            Chúng ta cần lưu ý ở đây là danh từ school khi dùng với ý nghĩa đếm được còn có một nghĩa chẳng mấy liên hệ tới trường học, hay việc học hành.  Nếu nói về văn sĩ, nghệ sĩ,…, nó có nghĩa là trường phái, ví dụ: the Impressionist school of painting; hay khi nói về một số lớn cá thường bơi với nhau, nó có nghĩa là đàn, vd: a school of whales/dolphins.

            Life cũng là một danh từ thuộc cả hai loại, đếm và không đếm được.  Ý nghĩa của nó khi ở dạng không đếm được là sự sống (đối lại với cái chết), đời sống, cuộc đời, nói chung; ở dạng đếm được, nó có nghĩa là mạng sống, sinh mạng, mạng người hay vật….  Một số thành ngữ thông dụng, ở dạng không đếm được: early in life (hồi còn nhỏ, còn trẻ tuổi); late in life (lúc hơi lớn tuổi); in later life/later in life (khoảng cuối đời); hay ở dạng đếm được như: fears for one’s life (sợ mình bị giết, vd: She fears for her life); risk one’s life (liều mạng, vd: She risked her life to help him); to start a new life (bắt đầu một cuộc sống mới, vd: They emigrated to start a new life in Canada.)

            Cuối cùng là literature.  Cũng như mấy danh từ kể trên, từ ngữ này cũng thuộc loại đếm được và không đếm được.  Nghĩa chung của cả hai dạng là văn chương/nền văn chương, tài liệu in ấn, sách vở, (về một vấn đề chuyên môn, hay cụ thể nào đó).

Nói chung lại, ý nghĩa của những từ ngữ nêu trên lấy ra từ đoạn trích dẫn trên trong sách của ông Barack Obama như sau: ổng ra tranh cử chức vụ chính trị (political office) trong ngành lập pháp (dân biểu); ổng mới ra trường luật được 4 năm (four years out of law school); ổng thường dễ nông nổi, nóng vội, bực dọc (dễ mất kiên nhẫn) với đời (generally impatient with life); ổng trao cho họ tài liệu tranh cử (hand them campaign literature.)

Bây giờ chúng ta tạm biệt trích đoạn văn của Tổng Thống da màu súc-cù-là đầu tiên đa tài của nước mà nhiều người Việt, kể cả đám vi-xi quyền thế cùng con cháu của chúng,  muốn…quy mã.  Tiếp theo, chúng tôi xin giới thiệu một trích đoạn văn…tiếng Việt dưới đây.

Một tên trộm đã đột nhập chỉ trong vòng có một tháng vào khoảng 50 căn hộ trước sự chứng kiến của những người chủ nhà khiến nhiều người dân sống ở quận Hochalaga, Montréal, cảm thấy lo sợ.  Dù là giữa ban ngày hay giữa ban đam, tên trộm đều không chút nao núng. “Ngay giữa buổi chiều, vào khoảng lúc 14:20.  Tôi để mở cửa sổ thiết kế sát đất và tôi đã nghe thấy một tiếng ‘bang.’”  Tôi chạy vào xem phòng ngủ và tôi rơi vào tình trạng mặt đối mặt với ,” Carl Béchard kể lại.  Nạn nhân hiện vẫn chưa thể hoàn hồn sau lần chạm trán với tên trộm đã đột nhập vào nhà anh hôm 21 tháng 7.  Kẻ tình nghimột thanh niên ngoài 20 tuổi đã bỏ trốn  ngay sau đó… (Việt Báo, số 616, ngày 29-07-2016)

Chúng tôi trích một đoạn văn Việt ngữ là để thử tìm hiểu xem trong tiếng mẹ đẻ của chúng ta, danh từ số ít nào cần có a/an đứng trước, danh từ nào không—nếu chúng ta phải dịch đoạn văn này sang Anh ngữ.  [Thực ra đoạn văn Việt trên đây là bản dịch từ nguồn báo chí, đa số là Anh ngữ.  Đọc bản tin chúng tôi có thể chắc “chăm phần chăm em ơi” rằng ông phiên dịch này là Bắc kỳ 2 nút, bởi vì trong Nam ít ai dùng 50 căn hộ, họ dịch 50 nhà; người ta không dùng cửa sổ thiết kế sát đất mà viết cửa sổ đặt/gắn sát sàn (tiếng Anh là French window/door, loại cửa sổ bằng kính gần bằng chiều cao căn phòng, gắn thấp ngang với sàn; với loại cửa này chúng ta có thể bước ra ngoài, ví dụ như ra ban-công chẳng hạn); không dùng tôi rơi vào tình trạng mặt đối mặt mà viết tôi phải đối mặt/đối diện….]

Trong đoạn văn trên có 4 danh từ số ít lần lượt từ đầu đến cuối chỉ cùng một đối tượng: một tên trộm, tên trộm, , kẻ tình nghi.  Do vậy, đầu tiên chúng ta viết A burglar; ở những danh từ còn lại buộc phải có the đứng trước, dù chúng ta dùng từ ngữ khác đồng nghĩa với tên trộm, , ví dụ như the thief, hay như ở đây the suspect (kẻ bị tình nghi).  Trong thực tế chúng ta có thể không cần lập lại danh từ burglar nhiều lần, bởi vì đại danh từ he/him có thể thay thế cho danh từ tên trộm; nhưng chúng ta nên cẩn thận khi dùng he/him vì độc giả có thể lầm lẫn với ông chủ nhà bị trộm viếng.

Một tháng ở đây có thể chuyển sang là a/one month.  Có thể là vì ở đây có sự khác biệt rất tế nhị về ý nghĩa, và thông thường không thể thay thế cho nhau được—one book có nghĩa là chỉ một cuốn sách, chứ không phải hai, hay ba cuốn,…; trong khi a book không có ý nghĩa đó.  Xin đơn cử một tình huống để làm rõ hơn ý nghĩa này.  Ví dụ anh A tỏ ý cần một vật gì đó để kê chỗ ngồi của mình cho cao lên; anh B đưa ra một cuốn sách dày, cuốn điện thoại niên giám dày cộm, nặng trịch của Montreal, chẳng hạn. Anh A nói:

A book is no good. (Đây không phải là loại tôi nghĩ tới.  Tôi cần một miếng gỗ dày cơ.)

Nhưng, giả thiết cũng trong tình huống đó, ý nghĩa sẽ khác nếu anh A nói:

One book is no good. (À, được đấy.  Nhưng một cuốn không đủ. Tôi cần tới 2 hay 3 cuốn lựng.)

Vì vậy trong đoạn văn tiếng Việt trích ở đây, một tháng dịch là one month thì chính xác hơn.  Nói khác đi, a/an trả lời cho câu hỏi what (cái gì, chủng loại nào); one trả lời how many (bao nhiêu).  Cuối cùng, một thanh niên phải là a young man ở bản tiếng Anh (một thanh niên, chớ không phải một ông già, tức là loại người nào, chớ không phải bao nhiêu người.)

Bây giờ chúng ta hãy đọc một đoạn tin tiếng Anh có tính cách thời sự hơn.

A street artist in Australia who painted a mural showing Hillary Clinton in a skimp swimsuit has covered her immage with a niqab after the local council threatened to impose a fine.  The mural, by an artist known as Lushsux, generated complaints in the Melbourne suburb of Footscray. The council deemed the mural sexist. (Montreal Gazette, Wed., August 3, 2016)

Sau khi đọc qua chúng ta có thể hiểu tại sao người viết tin dùng những mạo từ a, anthe ở đây.  Dưới đây là  hình chụp 2 bức tranh vẽ trên tường (mural), trước và sau khi có than phiền từ công luận Melbourne, Australia.

tim-hieu-anh-ngu-bai-4-img1

 

Xin hẹn quí độc giả ở bài tới.◙

Cognac Trinh, August 25, 2016

 

CÓ AI BIẾT, XIN GIÚP
Ngày 17/11/2016
Kính thưa quý đồng hương,
CĐNVQGVM xin chân thành cảm ơn tất cả quý đồng hương đã hết sức quan tâm đến việc bà Ngô Thị Đức, một thành viên của Cộng Đồng Montreal vừa qua đời mà không có thân nhân.
Hôm nay chúng tôi xin được thông báo là chúng tôi đã liên lạc được với thân nhân của bà ở California, bà Ngô thị Nữ, em gái Bà Đức. Gia đình thân nhân bà đã mua vé máy bay để qua Montreal cũng như đã tiếp xúc với các ông Nguyễn Đình Thông , Ngô Anh Võ, chị Lâm Hồng Hà và chị Bùi Xuân Mai. Được biết gia đình thân nhân bà Đức sẽ có mặt taị Montreal vào ngày 20/11/2016.
Chúng tôi sẽ thông báo tiếp khi có tin tức cụ thể về các chi tiết khác.
Kính báo,
Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia – Montreal.
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Date: 2016-11-09 9:15
Kính quí bạn đạo,
Có một phụ nữ người Việt, khoảng 70 tuổi, tên Ngô Thị Đức, ngụ tại địa chỉ 6260 Christophe Colomb, apt 103, lìa trần đã được gần tuần nay trong apartment của bà. Hiện nay, thi hài của bà được giữ tại nhà xác của chính phủ dành cho những người không có thân nhân thừa nhận (địa chỉ: 1701 Parthenais, Montreal).
Được biết thi hài của bà sẽ được giữ tại nhà xác này tối đa là 1 tháng trước khi được thiêu.
Kính mong quí bạn giúp đỡ chuyển e-mail này đến những người quen biết, may ra có hy vọng thân nhân và bạn bè của bà Đức nhận được thông tin.
Người có thể cho thêm tin tức liên quan đến vụ việc này:
Ô. Nguyễn Thông: 514-353-5110
Kính thông báo,
Khánh Hạnh

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia vùng Montréal trân trọng kính mời quý đồng hương tham dự Hội Chợ Tết Đinh Dậu 2017 được tổ chức vào ngày 15 tháng 1 năm 2017 từ 10 giờ 30 sáng đến 6 giờ chiều tại Centre Pierre-Charbonneau.
Xin vui lòng hồi đáp bằng cách thăm trang sự kiện Hội Chợ Tết trên Facebook,
và nhấn nút Going hay Interested.
Để biết thêm chi tiết về chương trình Hội Chợ Tết, các địa điểm bán vé, v.v... xin mời quý đồng hương vào thăm trang mạng và mạng xã hội Hội Chợ Tết.
Xin đừng quên LIKE / SHARE / FOLLOW chúng tôi trên các mạng xã hội để là người đầu tiên nhận thông tin về Hội Chợ Tết!