Monday , September 24 2018

Bài 3: A, An hay The ? (tiếp theo)

Bài 3:
A, An hay The ?
(tiếp theo)

Trước khi cố gắng đi tìm câu trả lời rốt ráo cho câu hỏi liên quan đến mấy mạo tự trông giản dị nhưng có vẻ không mấy đơn sơ đối với số người học tiếng Anh như chúng ta—“a, an hay the?” trong tiếng Anh, chúng tôi xin trích dẫn thêm vài đoạn văn nguyên tác dưới đây.  Bằng cách đưa thêm thí dụ, chúng tôi có ý định drive home những gì chúng tôi đã cố gắng trình bày qua hai bài trước, đồng thời cũng để củng cố thêm cho vững chắc (reinforce) những gì chúng ta đã được giới thiệu rồi, với hy vọng từ đây chúng ta có thể hiểu vấn đề thấu đáo hơn.

Drive home là thành ngữ đặc biệt (idiom) trong Anh ngữ, có dạng đầy đủ là drive sth home to sb (sth=something; sb=somebody), nghĩa là giúp, làm ai đó (sb) hiểu điều gì (sth) đến nơi đến chốn, thường là bằng cách lập đi lập lại điều ấy nhiều lần, bằng vài ví dụ khác chẳng hạn.  Khi người Anh Mỹ dùng reinforced concrete trong xây cất, chúng ta phải tự dộng hiểu là xi-măng cốt sắt/thép, không phải loại xi-măng cốt trevi-xi chế biến trong nước, bởi vì hỗn hợp xi-măng, cát, đá răm (concrete), được bồi thêm cho chắc hơn, vững hơn (reinforced), bằng vỉ, lưới sắt thép, hay nhiều thanh kim loại bên trong.

Tin Hoa kỳ: Colorado Woman Pries Open Mountain Lion’s Jaws to Rescue Son.

Denver A Colorado woman raced to her front yard to find a terrifying sign on Friday:  A mountain lion was hunched over her five-year-old son, biting him.  The woman charged the animal, yanked away one of its paws and discovered her son’s whole head was in its mouth.  She didn’t back down.  “She was able to pry the cat’s jaws open,” Pitkin County Sheriff’s Deputy Michael Buglione said.  “She’s a hero.”  The boy, who suffered deep cuts, was flown to hospital.  The mother, who also had scratches and bites, is credited with saving his life. (The Montreal Gazette, June 20, 2016, page NP4)

Chúng ta có thể thấy ngay trong trích đoạn trên, tất cả danh từ số ít khi được viết ra lần đầu đều có mạo tự bất định a đứng trước; những danh từ nào được nhắc lại, hay ám chỉ, lần thứ nhì, hay sau đó nữa, đều có mạo từ xác định the đứng trước.  Ám chỉ là vì danh từ lập lại lần thứ nhì không nhất thiết là giống y như lần đầu, mà được thay bằng một danh từ khác cùng chủng loại.  Ví dụ, lần đầu là a mountain lion, lần tiếp sau nhắc lại con vật, người ta dùng the animal, vì lionanimal đều chỉ thú vật; đến lần thứ ba nhắc lại con vật này, phóng viên lại dùng the cat’s, bởi vì lioncat đều thuộc họ nhà mèo.  Tương tự, đầu tiên người ta viết A woman, sau đó là The woman, và lần thứ ba là The mother.  Cũng vậy, đầu tiên là her five-year-old son, sau đó là The boy, bởi vì sonboy đều chỉ cậu bé lên 5, bị con sư tử núi ngoạm đầu.  Bà mẹ trong mẩu tin này quả là người phụ nữ gan dạ, và bình tĩnh, đủ sức nạy cặp hàm con vật mà cứu đứa con mình.  Bà xứng đáng được coi là bà mẹ anh hùng, như lời ông phó quận nhận xét.

Bây giờ xin giới thiệu thêm một trích đoạn nữa trong tác phẩm của Tổng Thống Hoa kỳ Barack Obama, bởi vì Thúy Đã Đi Rồi mà dân chúng Việt trong nước có vẻ còn chưa chịu buông bỏ đôi điều luyến tiếc đối với Nàng Thúy đực rựa chủ Nhà Trắng da màu súc-cù-là tài sắc vẹn toàn này, thông qua vô số bài thơ văn, tranh vẽ,…, về nàng ta.

It’s been almost ten years since I first ran for political office.  I was thirty-five at the time, four years out of law school, recently married, and generally impatient with life.  A seat  in the Illinois legislature had opened up, and several friends suggested that I run, thinking that my work as a civil lawyer, and contacts from my days as a community organizer, would make me a viable condidate.  After discussing it with my wife, I entered the race and proceeded to do what every first-time candidate does: I talked to anyone who would listen.  I went to block club meetings and church socials, beauty shops and barbershops.  If two guys were standing on a corner, I would cross the street to hand them campaign literature.  And everywhere I went, I’d get some version of the same two questions.

            “Where’d you get that funny name?”

            And then: “You seem like a nice enough guy.  Why do you want to go into something dirty and nasty like politics?” (The Audacity of Hope, by Barack Obama, p.1)

at the time, một thành ngữ cố định, có nghĩa là vào lúc ấy/vào thời gian ấy, tức là lúc ổng ra ứng cử vào chức vụ dân biểu của tiểu bang Illinois, cách đây 10 năm.  Chúng ta nên cẩn thận kẻo lầm cách dùng này với at a time, thường là one/two/…/at a time, khi đếm, hay kiểm tra cái gì, tùy ngữ cảnh.  Ví dụ như trong câu, “The security guard let them in one at a time,” nghĩa là, “Chàng bảo vệ cho họ vào từng người một.”

Ý nghĩa của trích đoạn tự nó cũng làm rõ lý do Ông Obama dùng những mạo tự a, the ở đây.  Riêng về the race chúng tôi xin giải thích thêm.  Ở đây ngụ ý việc ra ứng cử là cuộc chạy đua vào chức vụ nói trên mà ổng ghi danh tham dự (entered the race,) sau khi được bà quản giáo Michelle gật đầu cho phép.

Khái niệm về cuộc chạy đua này hẳn phải có ít nhiều liên hệ đến thành ngữ mà người Mỹ thường hay dùng khi nói đến việc ra ứng cử vào một chức vụ nào đó—to run for office. Hèn gì mà nhà lước Việt Cộng chẳng thường hay nói tới động tác chạy chức chạy quyền ở trong nước!  Chúng ta cần lưu ý là cùng động tác này người Anh sẽ dùng “to stand for office.”

Thông qua trích đoạn này chúng ta hiểu biết thêm con người Obama kể từ khi chập chững bước vào đời sống chính trị: đây quả là một con người đầy tự tin vào việc mình làm.  Mới ra ứng cử lần đầu, chưa ai biết mình là ai, mà sẵn sàng hàn huyên với bất cứ ai chịu nghe mình nói; tham dự các cuộc hội họp tại khu phố; có mặt các buổi liên hoan tại nhà thờ; thậm chí đi tới cả các cửa hiệu mỹ phẩm cũng như tiệm hớt tóc để phát truyền đơn ứng cử. Và đâu đâu ổng cũng bị người ta chòng ghẹo vì cái tên khác lạ của mình—Barack Obama, nghe rất lạ tai đối với dân địa phương.

Giờ đây chúng ta khỏi cần nói thêm ổng là người thế nào, có biệt tài gì.  Đặc biệt, người Việt trong nước, nhất là giới trẻ, hầu như bị ổng hớp hồn khi ổng xuất hiện trước công chúng, và thao thao trao đổi với họ về mọi việc mà họ muốn biết.

Đến đây chúng tôi nghĩ phần trả lời cho câu hỏi khi nàotại sao phải dùng các mạo từ a, anthe trong Anh ngữ như thế cũng tạm đủ, nên xin ngừng để sang một khía cạnh khác của vấn đề.

Trong hai bài trước chúng tôi có viết là a hay an phải có mặt trước danh từ số ít.  Nhưng trong đoạn trích dẫn từ sách của ông B. Obama bên trên, chúng ta lại thấy có mấy danh từ số ít—office, law school, life, literature—không có mạo từ a hay an đằng trước; dấu hiệu cụ thể dễ nhận ra ngay là chúng không có mẫu tự s/es đứng sau cùng.  (Xin ghi chú là có ngoại lệ—có một ít danh từ Anh ngữ số nhiều không tận cùng bằng mấy mẫu tự vừa kể.  Việc này xin để bàn tới ở một bài khác.)

Thế lày thế lào?  Xin đón xem Bài 4.(June 21,16)

Congac Trinh

X